rss
twitter
  • I never teach my pupils. I only attempt to provide the conditions in which they can learn.

Tỉ lệ tốt nghiệp THPT 2012: quay về điểm khởi đầu “phong trào hai không”

| Posted in Giáo dục Việt Nam |

0

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những hobbies của tôi là đọc những dữ liệu về giáo dục, nhất là tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT). Vài năm qua, năm nào tôi cũng đọc vài dữ liệu và có khi cũng công bố trên Tuần Việt Nam. Năm nay, dữ liệu về tỉ lệ tốt nghiệp chưa đầy đủ, tôi mới thu thập được từ 26 tỉnh thành. Nhưng kết quả cho thấy rất thú vị …

Hôm nọ, đọc bài của Ts Hồ Thiệu Hùng (Đừng để “hố đen” xuất hiện) quá thấm, nên tôi nảy ý định bổ sung những ý của anh Hùng qua vài dữ liệu. Trong bài này, tôi chỉ tính tỉ lệ tốt nghiệp THPT chính qui, chứ không tính tỉ lệ trong nhóm tại chức. Để cho bức tranh tốt hơn, tôi còn trình bày dữ liệu từ năm 2006 đến nay. Nến nhớ năm 2006 là năm ông Nguyễn Thiện Nhân bắt đầu phong trào “hai không”. Do đó, những dữ liệu này cũng nói lên một phần hiệu quả của phong trào đó. Sau đây là vài điểm tôi có thể rút ra từ những dữ liệu sơ khởi:

Thứ nhất là hầu hết tất cả các tỉnh đều có tỉ lệ tốt nghiệp THPT tăng so với năm 2011. Thật vậy, trong số 26 tỉnh thành tôi có dữ liệu, có 24 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp tăng, chỉ có 2 tỉnh thành (Lâm Đồng và Hải Phòng) là tỉ lệ không tăng hay giảm chút ít. Tính trung bình tỉ lệ tốt nghiệp năm 2012 tăng 3.32% so với niên học trước. Nhưng có những địa phương tăng cao như Tây Ninh (+11%), Dak Lak (9%), Ninh Thuận (~8%), và Lai Châu (~6%). Phần lớn các tỉnh thành có tỉ lệ tăng dưới 5%.

Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông 2006-2012

 

Năm Trung bình (%) Độ lệch chuẩn Hệ số biến thiên (%)
2012 (a)

99.19

0.67

0.68

2011

95.87

3.36

3.51

2010

91.08

8.78

9.63

2009

81.61

10.52

12.90

2008

75.61

10.84

14.34

2007

67.78

13.28

19.59

2006

93.01

6.28

6.75

Chú thích: (a) số liệu của 26 tỉnh thành. Hệ số biến thiên (coefficient of variation) là tỉ số của độ lệch chuẩn trên trung bình, với đơn vị phần trăm.

Một điều rất thú vị trong Bảng 1 trên đây là tỉ lệ tố nghiệp năm 2012 rất nhất quán. “Nhất quán” hiểu theo nghĩa độ khác biệt giữa các tỉnh thành rất nhỏ, thể hiện qua độ lệch chuẩn chỉ 0.67%! Thật ra, độ lệch chuẩn năm 2012 là thấp nhất trong suốt 7 năm qua. Một xu hướng thú vị khác là độ lệch chuẩn từ 2007 trở đi càng lúc càng giảm, có lẻ thể hiện các địa phương … đồng lòng học hỏi để nâng tỉ lệ tốt nghiệp.

Biếu đồ 1: Tỉ lệ tốt nghiệp trung bình cho 63 tỉnh thành từ 2006 đến 2011. Số liệu cho năm 2012 là từ 26 tỉnh thành. Mỗi hình hộp có 4 phần: phần “eo” là số trung vị (median); phần trên eo là số  bách phân vị 75; phần dưới eo là 25 bách phân vị 25; hai “cọng râu” trên và dưới mỗi hộp thể hiện số thấp nhất và cao nhất.

Thứ hai là nhìn chung xu hướng tăng giảm của tỉ lệ tốt nghiệp THPT 2006-2012 giống như hình biểu tượng Swoosh của hãng làm giày Nike. Tỉ lệ cao trong năm 2006, sau đó giảm mạnh trong năm 2007, để rồi sau đó lại tăng dần dần đến năm 2011, và năm 2012 là đỉnh điểm gần 100% (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 2. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cho 26 tỉnh thành từ 2006 đến 2012. Đường liên tục màu đen thể hiện tỉnh miền Bắc; đường đứt đoạn màu đỏ là miền Nam; và đường đứt đoạn mịn màu xanh lá cây là miền Trung.

Thứ ba là các tỉnh phía Bắc và Trung có xu hướng tăng nhanh hơn các tỉnh phía Nam. Biểu đồ 2 trình bày tỉ lệ tốt nghiệp cho từng tỉnh thành trong thời gian 2006 đến 2012 và phân chia thành miền. Một số tỉnh phía Bắc (màu đen) có tỉ lệ tốt nghiệp THPT rất thấp vào năm 2007, nhưng sau đó thì tăng rất nhanh và đạt gần 100% trong năm 2012. Các tỉnh miền Trung có tỉ lệ tốt nghiệp trung bình giữa các tỉnh phía Nam và Bắc, nhưng tỉ lệ gia tăng không nhanh như các tỉnh phía Bắc. Điều này dẫn đến hệ quả là độ dao động về tỉ lệ tốt nghiệp của các tỉnh miền Bắc cao nhất. Kế đến là các tỉnh miền Trung, và thấp nhất là các tỉnh miền Nam (Biểu đồ 3).

Biểu đồ 3. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trung bình từ 2006 đến 2012 cho 62 tỉnh, chia theo miền. Ví dụ diễn giải: đối với các tỉnh miền Bắc (hộp màu đỏ) tỉ lệ tốt nghiệp (trung bình của 7 năm qua) là khoảng 92%, nhưng có 75% các tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp gần 99%, 25% các tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp khoảng 78%. Tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp thấp nhất trong thời gian qua là <20%.

Như nói trên, số liệu mới có 26 (trong số 62) tỉnh thành, nên cần phải cẩn thận trong diễn giải. Tuy nhiên, xu hướng chung thì đã quá rõ. Những kết quả trên đây có liên quan gì đến tình trạng gian dối trong học đường và trong xã hội? Có thể nào tỉ lệ tốt nghiệp giảm từ 93% xuống còn 68% trong vòng 1 năm? Có thể nào tỉ lệ tốt nghiệp tăng 10% sau đó 1 năm? Ở Quảng Ngãi có trường mà 7 năm trước tỉ lệ tốt nghiệp là 0, và nay có tỉ lệ tốt nghiệp tròn trĩnh 100%. Khó có biện pháp can thiệp giáo dục nào có thể nâng cao tỉ lệ tốt nghiệp nhanh và cao như thế. Chỉ còn một giả thuyết may ra có thể giải thích cho sự tăng tỉ lệ tốt nghiệp một cách bất bình thường trong thời gian qua là giả thuyết bệnh thành tích. Nếu giả thuyết này đúng thì sau 6 năm phát động phong trào “hai không”, tình trạng bê bối trong thi cử quay trở lại đúng vào thời điểm phong trào được phát động.

Thời gian gần đây có nhiều người đặt vấn đề là có nên duy trì hai kì thi tốt nghiệp trung học và tuyển sinh đại học. Đây là câu hỏi đáng được đặt ra. Ở Úc không có kì thi tuyển sinh đại học, nhưng có kì thi tốt nghiệp trung học.  Đại học dựa vào điểm thi trung học để tuyển sinh.  Nói cách khác, các đại học Úc tin tưởng (dĩ nhiên) vào điểm thi tốt nghiệp trung học để làm cơ sở cho tuyển sinh đại học.  Dĩ nhiên, ngoại trừ ngành y thì còn phải phỏng vấn thí sinh trước khi chọn. Lí do Úc làm được là vì trước đây người ta đã có nghiên cứu cho thấy điểm thi tuyển sinh và điểm thi tốt nghiệp trung học có độ tương quan rất cao, nên họ không cần một kì thi thứ hai.

Riêng ở nước ta, nhất là trong bối cảnh tỉ lệ tốt nghiệp trung học quá cao, cao hơn bất cứ kì vọng thực học nào, thì vấn đề bỏ hay không bỏ kì thi tú tài là một câu hỏi khó có câu trả lời. Nếu điểm thi không phản ảnh thực học thì không có lí do gì duy trì kì thi tốn kém như thế.  Nhưng vấn đề đặt ra là thế nào là thực học. Nếu điểm thi tốt nghiệp THPT không phản ảnh đúng thực học thì cái gì phản ảnh đúng? Kì thi tuyển sinh có phản ảnh đúng thực học? Thật khó có câu trả lời, vì thiếu bằng chứng.  Tôi nghĩ cần phải làm nghiên cứu để có bằng chứng. Một cách đơn giản: nếu điểm thi tuyển sinh có độ tương quan (correlation) cao so với điểm thi tốt nghiệp THPT, thì có lẽ đó là bằng chứng bỏ kì thi tuyển sinh hay kì thi tốt nghiệp THPT. Nhưng nếu độ tương quan quá thấp thì chúng ta không biết kì thi nào phản ảnh đúng thực tế, và chưa có lí do để bỏ kì thi tốt nghiệp THPT.

Không cần dò xét kết quả vì ai cũng đỗ cả (ảnh: PHT)

Một trong những nhà nghiên cứu giáo dục tôi tâm đắc là thầy Dương Thiệu Tống. Trong cuốn “Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại” (Nhà xuất bản Trẻ, 2003), thầy phân tích cho thấy điểm thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển đại học cũng không tương quan với khả năng học của học sinh.  Chỉ riêng môn toán, số liệu của Thầy Tống phân tích trên 1280 học sinh cho thấy: (a) hệ số tương quan giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm thi tuyển sinh đại học là 0.17;(b) giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.09; và (c) giữa điểm thi tuyển sinh đại học và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.19. Nói cách khác, điểm thi kì thi tốt nghiệp THPT chỉ giải thích khoảng 1% đến 2% điểm thi tuyển sinh (hay ngược lại).  Cần nói thêm rằng, trong ngành y, hệ số tương quan giữa điểm thi tú tài và điểm thi đầu năm là khoảng 0.90. Nếu số liệu của thầy Tống lặp lại cho nhiều ngành khác thì đúng là chưa có bằng chứng để bỏ kì thi tốt nghiệp THPT.

NVT

====

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/497160/Dung-de-%E2%80%9Cho-den%E2%80%9D-xuat-hien.html

Đừng để “hố đen” xuất hiện

TT – Thi tốt nghiệp THPT trong thời gian qua đã được thay đổi nhiều về hình thức: lúc chặt chẽ là thi tập trung theo cụm, đổi chéo giám thị và giám khảo, có thanh tra do bộ phái xuống kiểm tra các hội đồng coi thi và chấm thi; lúc lại nới lỏng cho phép thi theo trường, chấm theo tỉnh như mới đây.

Kết quả những năm qua là thế nào? Năm đầu mới áp dụng “hai không” (nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục) thời ông Nguyễn Thiện Nhân làm bộ trưởng Bộ GD-ĐT, các địa phương chưa kịp ứng phó nên nhiều nơi đạt kết quả thấp một cách bất ngờ, không ít tỉnh đạt tỉ lệ tốt nghiệp vòng đầu dưới 50%, có trường có số thí sinh đậu đếm được trên đầu ngón tay. Năm sau, tình hình đã thay đổi hẳn với tỉ lệ tốt nghiệp tăng vọt vài chục phần trăm, rồi dần dần vài năm nữa tỉ lệ này trở về mức cũ trước kia – tỉnh nào cũng đạt trên 90%, có tỉnh trên 98%. Con số đẹp trên khiến nhiều nhà quản lý xã hội thở phào. Kỳ thi 2012 này chắc cũng có nhiều, rất nhiều con số đẹp.

Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi: có phải sự “tiến bộ” này cho thấy chất lượng dạy học đã có những bước tiến thần kỳ, chất lượng học sinh đã vụt lớn lên với tốc độ Phù Đổng? Không, bất kỳ ai có chút hiểu biết về thực trạng giáo dục Việt Nam đều thừa biết không phải vậy.

Thế thì thi tốt nghiệp THPT nhằm mục đích gì, có phải để nắm tương quan trình độ học sinh giữa các tỉnh thành qua từng năm không? Ngay đến Bộ GD-ĐT – nơi tổ chức, cầm trịch cuộc thi này – cũng không dám kết luận một tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp đến 98% thì có chất lượng cao hơn của một tỉnh khác chỉ tốt nghiệp 75%. Nói cách khác, tỉ lệ tốt nghiệp qua cuộc thi tổ chức rầm rộ, tốn kém, với quy chế có vẻ rất chặt chẽ kèm các khẩu hiệu kêu gọi về đạo đức hoàn toàn không phản ánh chất lượng thật sự, càng không phản ánh tương quan về chất lượng dạy và học giữa các địa phương và giữa các năm với nhau.

Con số trên nếu phản ánh được điều gì thì đó chỉ là phản ánh tính “hiệu quả” của các biện pháp đối phó của những người quản lý kỳ thi. Nếu xui rủi các biện pháp gian lận thi cử bị lật tẩy, trưng ra bằng các đoạn video clip hẳn hoi thì “ai” xui nấy cố cãi, cãi không được thì ráng chịu kỷ luật, khi bị kỷ luật thì tìm cách nào đó dằn mặt người dám tố cáo, những nơi còn lại sẽ được kết luận “kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc”.

Nơi nào cán bộ quản lý biết tự trọng tổ chức thi cử trung thực, phản ánh qua tính khá “ổn định” của tỉ lệ tốt nghiệp qua hàng vài chục năm (dù là trước hay sau năm phát động “hai không”), cũng đành tự động viên mình đã nghiêm chỉnh thực hiện quy chế thi cử, thành tích dù có kém địa phương bạn cũng chẳng sao. Nơi nào tổ chức thi bê bối nhưng không bị bắt quả tang thì khấp khởi mừng “thế là trót lọt”, năm sau cứ thế phát huy, không biết chừng còn có bằng khen nữa.

Cái sảy “bệnh thành tích” từ lâu đã trở thành cái ung nhọt – thói gian dối tập thể. Người lừa kẻ khác mà không bị phát giác thì vui mừng đã đành, lạ là người bị lừa dối biết mình bị lừa mà vẫn thích. Cứ để vậy rồi người người sẽ nghiệm ra rằng không lừa, không dối trá thì không sống nổi. Một “hố đen xã hội” xuất hiện. Nếu hố đen trong vũ trụ nuốt trọn mọi thiên thể lớn nhỏ gần nó, nuốt cả ánh sáng luôn thì “hố đen trong xã hội” nuốt chửng mọi đạo đức tốt đẹp của con người, nuốt cả lương tâm luôn. Hãy đừng để “hố đen” xuất hiện trong xã hội chúng ta.

TS HỒ THIỆU HÙNG

Post a comment

*