rss
twitter
  • I never teach my pupils. I only attempt to provide the conditions in which they can learn.

Chuyển động thẳng biến đổi đều P.2

| Posted in Tìm hiểu thêm về Vật Lý sơ cấp |

0

Trích từ Vật Lý Tuổi Trẻ số 102 tháng 2 -2012

Chuyển động thẳng biến đổi đều P.1

| Posted in Tìm hiểu thêm về Vật Lý sơ cấp |

0

Trích từ Vật Lý Tuổi Trẻ số 102 tháng 2-2012

Thái Lan và Mã Lai đang qua mặt Việt Nam về toán và vật lí II: phẩm

| Posted in Thầy Nguyễn Văn Tuấn |

0

Trong bài trước, tôi đã trình bày số liệu cho thấy VN ta đang thụt lùi so với Thái Lan và Mã Lai về toán và vật lí. Bài này sẽ trình bày một số số liệu cho thấy về chất lượng, toán và vật lí của VN cũng thấp hơn các nước láng giềng.

Một công trình khoa học sau khi công bố, nếu có ý tưởng hay phương pháp tốt, sẽ được đồng nghiệp trích dẫn. Câu hỏi đặt ra là số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi đó, vì còn tuỳ thuộc vào ngành khoa học. Theo phân tích của ISI, khoảng 55% bài báo khoa học trên thế giới chưa bao giờ được trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố!   Ngay cả những bài báo được trích dẫn, con số cũng khiêm tốn: chỉ có <1% những bài báo được trích dẫn trên 6 lần. Do đó, có người đề nghị rằng một công trình được trích dẫn trên 5 lần có thể xem là có chất lượng.

Chất lượng của một công trình có thể đánh giá qua hai chỉ số liên quan đến trích dẫn: chỉ số trích dẫn và chỉ số H. Chỉ số trích dẫn là số lần bài báo được trích dẫn sau khi công bố. Chỉ số H phản ảnh mức độ ảnh hưởng của một nhà khoa học, nhưng sau này cũng được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của một nhóm hay trung tâm khoa học, kể cả đại học. Về ý nghĩa của chỉ số H có thể đọc bài trước đây của tôi.

“Mèo khen mèo dài đuôi”

Tần số trích dẫn là một thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng một công trình nghiên cứu. Nhưng trong vài năm gần đây, người ta phát hiện hiện tượng “self citation” (tức tự trích dẫn). Nói cách khác, tác giả tự trích dẫn công trình trước của mình, và do đó làm tăng chỉ số trích dẫn! Tự trích dẫn không phải là không có lí do, vì có khi tác giả phải đặt nghiên cứu của mình trong bối cảnh chung và các công trình trước của mình. Nhưng tự trích dẫn nhiều quá có thể xem là một hành vi gian lận –malpractice – trong khoa học.

Phân tích tần số trích dẫn khoa học VN, tôi phát hiện một xu hướng đáng ngại: tần số tự trích dẫn quá cao trong ngành toán. Thật vậy, trong số 1368 lần trích dẫn các công trình toán từ VN, thì có đến 44% là tác giả tự trích dẫn (Bảng 2)! Thái Lan cũng có tần số tự trích dẫn khá cao (35%), so với Mã Lai (25%) và Singapore là thấp nhất (21%).

Bảng 2 dưới đây còn “tiết lộ” văn hoá ngành rất rõ nét. Giới toán học (Đông Nam Á?) có xu hướng tự trích dẫn cao nhất so với các đồng nghiệp ngành vật lí (với tự trích dẫn dao động từ 14-19%). Riêng các nhà khoa học về khoa học máy tính có tần số tự trích dẫn thấp nhất (4-9%), thấp hơn cả các đồng nghiệp kĩ thuật với tỉ lệ tự trích dẫn khoảng 10-17%.

Bảng 2. Phần trăm tự trích dẫn (self-citation)

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Việt Nam

44

14

10

4

Thái Lan

35

18

11

5

Mã Lai

25

19

17

8

Singapore

21

15

14

9

 

Chỉ số trích dẫn thấp

Nói chung, nghiên cứu của Việt Nam về toán, kĩ thuật và khoa học máy tính không có chất lượng cao, và do đó có tầm ảnh hưởng thấp. Có thể điểm qua vài ngành để biết được tình hình chung:

Toán học. Tổng số lần trích dẫn các công trình toán học của VN trong thời gian 2007-2011 là 1368 lần, tức mỗi công trình toán từ VN được trích dẫn 1.93 lần (Biểu đồ). Con số này cao hơn Thái Lan (1.84), nhưng còn thấp hơn Mã Lai (2.23) và Singapore. Nhưng sau khi loại bỏ tần số tự trích dẫn, thì chỉ số trích dẫn các công trình toán học của VN chỉ còn 1.09, thấp nhất trong vùng (Bảng 3).

Vật lí. Chất lượng nghiên cứu ngành vật lí VN qua chỉ số trích dẫn có phần tốt hơn Thái Lan và Mã Lai. Sau khi điều chỉnh có tần số tự trích dẫn, chỉ số trích dẫn của VN là 2.73, cao hơn Thái Lan (2.60), Mã Lai (2.50), nhưng thấp hơn nhiều so với Singapore (4.78).

Kĩ thuật và khoa học máy tính. Chất lượng nghiên cứu hai ngành này của VN cũng nằm trong tình trạng chung: thấp. Đặc biệt hai ngành này không có “văn hóa” tự trích dẫn cao như ngành toán hay vật lí. Sau khi loại bỏ tần số tự trích dẫn, tính trung bình mỗi bài báo về kĩ thuật của VN được trích dẫn 2.39 lần. Chỉ số này thấp nhất, khi so với Thái Lan (2.91), Mã Lai (2.52), và Singapore (3.86).

Bảng 3. Chỉ số trích dẫn (2007-2011)

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Tính cả tự trích dẫn
Việt Nam

1.93

3.78

2.65

2.10

Thái Lan

1.84

3.16

3.28

2.33

Mã Lai

2.23

3.07

3.04

1.69

Singapore

3.12

5.60

4.47

3.41

Không tính tự trích dẫn
Việt Nam

1.09

2.73

2.39

2.02

Thái Lan

1.19

2.60

2.91

2.21

Mã Lai

1.68

2.50

2.52

1.56

Singapore

2.47

4.78

3.86

3.11

 

 

Ảnh hưởng thấp

Tầm ảnh hưởng có thể đánh giá qua chỉ số H (Bảng 4). Trong thời gian 2007-2011, Việt Nam công bố được 15 bài nghiên cứu toán học được trích dẫn 15 lần trở lên (chỉ số H = 15). Chỉ số này cao hơn Thái Lan (12), nhưng vẫn thấp hơn Mã Lai (16) và Singapore (25). Tuy nhiên, nếu điều chỉnh cho tự trích dẫn thì chắc chắn chỉ số H ngành toán học VN cũng thấp nhất so với 3 nước ASEAN vừa đề cập.

Bảng 4. Chỉ số H của Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai và Singapore 2007-2011

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Việt Nam

15

19

13

9

Thái Lan

12

23

28

15

Mã Lai

16

22

36

14

Singapore

25

53

51

31

 

Chỉ số H cũng cho thấy tầm ảnh hưởng của các công trình vật lí, kĩ thuật và khoa học máy tính của VN là thấp nhất trong vùng. Singapore lúc nào cũng dẫn đầu tầm ảnh hưởng, kế đến là Mã Lai và Thái Lan.

Cố nhiên, phân tích này chưa xem xét đến từng công trình hay cá nhân xuất sắc, nhưng thiết nghĩ những cá nhân hay công trình outlier như thế không đại diện cho một nền khoa học, nên rất khó diễn giải.

Nói tóm lại, qua hai phân tích, chúng ta dễ dàng thấy 2 lĩnh vực khoa học được xem là “mạnh” của Việt Nam là toán và vật lí, thật ra không mạnh chút nào khi so với các nước láng giềng. Không mạnh về số lượng, càng yếu kém về chất lượng. Điều đáng quan tâm là Mã Lai và Thái Lan đã và đang vượt qua VN về số ấn phẩm toán và lí. Những số liệu này còn cho thấy Mã Lai đã có một bước “nhảy vọt” trong hai năm qua, vượt qua Thái Lan, và trở thành “cường quốc” khoa học thứ 2 ở Đông Nam Á (chỉ sau Singapore).

Những dữ liệu này hàm ý cho biết nếu VN không có kế hoạch phát triển khoa học đồng bộ (mà chỉ tập trung tiền vào một lĩnh vực hẹp nào đó) thì chúng ta sẽ có một nền khoa học méo mó, mất cân đối, và chẳng giống ai. Nếu VN không tạo ra một bước nhảy vọt như Mã Lai (hay Thái Lan trong thập niên trước đây) thì chúng ta sẽ mãi mãi là kẻ đi sau hai nước láng giềng. Không một người Việt Nam nào – trong hay ngoài nước — muốn thấy một viễn ảnh như thế.

NVT

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Trích: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1425-thai-lan-va-ma-lai-dang-qua-mat-viet-nam-ve-toan-va-vat-li-ii-pham-

 

 

Thái Lan và Mã Lai đang qua mặt Việt Nam về toán và vật lí I: lượng

| Posted in Thầy Nguyễn Văn Tuấn |

0

Thật ra thì hai nước này đã “qua mặt” VN từ những 30 năm trước. Nhưng những số liệu tôi thu thập mới đây cho thấy họ đang hoặc đã qua mặt VN về lĩnh vực vật lí và toán. Đó là điều đáng quan tâm …

 

Ấn tượng chung về khoa học Việt Nam là thế mạnh về toán học và vật lí. “Thế mạnh” ở đây là so với các nước trong vùng Đông Nam Á (ngoại trừ Singapore). Do đó, nếu có ai nói “toán học và vật lí là hai ngành khoa học ‘mạnh’ của Việt Nam” thì có lẽ không ai phản đối. Việt Nam có viện toán (nay thì có thêm một viện toán cao cấp) và viện vật lí, với những nhà khoa học – qua mô tả của báo chí – là những bậc kì tài kiệt suất và lừng danh thế giới. Chúng ta dễ dàng chấp nhận, thậm chí tự hào, những giả định như thế, cho đến khi có dữ liệu mới để hiểu biết thêm.

Trong điều kiện thiếu thốn nghiên cứu về hoạt động khoa học, dữ liệu cần thiết để đánh giá, có lẽ là số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học của từng nước. Số liệu này có thể thu thập từ Web of Science (của Thomson ISI), và các cơ quan quản lí khoa học thường dựa vào để cung cấp tài trợ cho nghiên cứu cũng như đánh giá thành tựu khoa học của một nước. Tuy số liệu này không đầy đủ, nhưng nó khách quan, và cũng cho chúng ta vài tín hiệu cần thiết để biết chúng ta đang ở đâu trên bản đồ khoa học trong vùng.

Trong phân tích dưới đây, tôi tập trung vào 4 lĩnh vực khoa học: toán, vật lí, kĩ thuật (engineering), và khoa học máy tính (computer science). Tôi giới hạn số liệu trong thời gian 5 năm, tính từ 2007 đến 2011. Tôi chỉ phân tích dữ liệu cho 4 nước, cụ thể là VN, Thái Lan, Mã Lai, và Singapore. Chủ yếu là so sánh giữa ta với Thái Lan và Mã Lai, vì khoảng cách giữa ta và Singapore còn quá xa, nên so sánh sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, số liệu Singapore được dùng như là một “tham chiếu”.

Lượng: nặng về toán lí, nhẹ về kĩ thuật

Ấn phẩm khoa học. Bảng 1 dưới đây trình bày số lượng ấn phẩm khoa học của 4 nước trong thời gian 2007-2011. Trong thời gian 5 năm qua, các nhà khoa học VN công bố được 5192 bài báo khoa học trên các tập san ISI. Con số này chỉ bằng khoảng 1/5 của Thái Lan và Mã Lai, và trên 1/10 của Singapore.

So với các nước khác trong vùng, VN có số ấn phẩm về toán và vật lí cao. Trong số 5192 bài báo khoa học của VN, khoảng 28% là những công trình về toán và vật lí. Tỉ trọng này còn cao hơn cả Singapore (21%). Trong khi đó, tỉ trọng bài báo về toán và vật lí cộng lại của Thái Lan chỉ khoảng 9%, và Mã Lai 10%.

Tuy nhiên, số ấn phẩm về kĩ thuật và khoa học máy tính của VN chiếm tỉ trọng thấp hơn các nước trong vùng. Khoảng 9% các bài báo khoa học từ VN là liên quan đến kĩ thuật và khoa học máy tính. Trong cùng thời gian, tỉ trọng này của Thái Lan là 14%, Mã Lai 20%, và Singapore gần 30%.

Trong ngành toán, số lượng bài báo khoa học của Việt Nam (707) không cao hơn Mã Lai (631) và Thái Lan (580) bao nhiêu. Tuy nhiên, số công trình về toán của VN chưa bằng 50% của Singapore. Nhưng số lượng ấn phẩm về vật lí của VN chưa bằng phân nửa của Thái Lan và Mã Lai, và chỉ bằng ~10% của Singapore. Riêng số ấn phẩm về kĩ thuật và khoa học máy tính của VN càng khiêm tốn hơn khi so với 3 nước vừa kể.

Bảng 1. Xu hướng biến chuyển về số ấn phẩm quốc tế (ISI) trong thời gian 2009-2009 và 2010-2011

Số ấn phẩm khoa học trong thời gian

Tăng/giảm (%) giữa 2010-11 và 2007-09

2007-11 2007-09 2010-11
Tổng số bài báo ISI

Việt Nam

5192

2693

2499

39

Thái Lan

23223

12765

10458

23

Mã Lai

22053

9383

12670

103

Singapore

39603

21962

17641

20

       

Toán      

Việt Nam

707

370

337

37

Thái Lan

580

271

309

71

Mã Lai

631

286

345

81

Singapore

1536

888

648

9

       

Vật lí      

Việt Nam

735

445

290

-2

Thái Lan

1426

803

623

16

Mã Lai

1549

737

812

65

Singapore

6706

3896

2810

8

       

Kĩ thuật      

Việt Nam

342

82

260

376

Thái Lan

2735

1520

1215

20

Mã Lai

3682

1644

2038

86

Singapore

8492

5003

3489

5

       

KH máy tính    

Việt Nam

122

50

72

116

Thái Lan

502

273

229

26

Mã Lai

781

312

469

125

Singapore

2890

1617

1273

18

Chú thích: cột cuối cùng được tính như sau: (a) tính trung bình mỗi năm cho 3 năm đầu 200-709 (cột 3); (b) tính trung bình cho 2 năm sau 2009-10 (cột 4); (c) lấy kết quả của (b) chia cho kết quả của (a) sẽ có kết quả cho 2 thời kì, tức cột sau cùng. Chẳng hạn như ngành KH máy tính của Singapore, số bài báo trung bình mỗi năm trong thời gian 2010-11 tăng 18% so với số bài báo trung bình năm 2007-09.

Xu hướng: Mã Lai tăng, VN giảm

Để có vài ý niệm về xu hướng công bố, tôi chia thời gian 5 năm thành 2 giai đoạn: 2007-2009 và 2010-2011. Trong thời gian 2007-2009, trung bình mỗi năm VN công bố được khoảng 900 bài, và con số này tăng lên 1250 bài trong thời gian 2010-2011. Như vậy, tỉ lệ tăng trưởng của VN là 39%.

Nhưng tỉ lệ tăng trưởng đó cao hơn Thái Lan (23%) vẫn còn thấp so với Mã Lai (gấp 2 lần). Trong thời gian 2007-09, Mã Lai công bố trung bình mỗi năm khoảng 3120 bài, nhưng con số này cho thời gian 2 năm nay 6335 bài! Mã Lai đã thật sự có một bước nhảy vọt trong hai năm qua, trong khi đó Thái Lan thì chưa.

Phân tích chi tiết hơn cho thấy xu hướng tăng trưởng của Mã Lai và Thái Lan là ngành toán và vật lí. Trong lĩnh vực toán, số ấn phẩm của VN tăng 37% trong hai thời kì trên, nhưng Mã Lai tăng 81% và Thái Lan tăng 71%. Hiện nay, con số bài báo khoa học về toán của Mã Lai (345) đã vượt qua VN (337), còn Thái Lan với 309 bài thì đang “ngấp nghé” VN. Với xu hướng này, chỉ cần hai năm nữa, Thái Lan sẽ có số ấn phẩm toán cao hơn VN.

Trong lĩnh vực vật lí, số ấn phẩm vật lí của Thái Lan và Mã Lai đã cao hơn VN gấp 2 hoặc hơn 2 lần. Đáng chú ý là trong hai thời kì trên, số ấn phẩm vật lí của VN giảm 2%, trong khi đó Mã Lai tăng 65% và Thái Lan tăng 16%. Hai năm qua, VN chỉ công bố được 290 công trình về vật lí, trong khi đó Thái Lan công bố được 623 bài, và Mã Lai công bố còn hơn cả Thái Lan (812 bài).

Trong lĩnh vực kĩ thuật, số bài báo VN gia tăng rất đáng kể. Số bài báo trung bình trong 2 năm qua tăng gần 4 lần so với 3 năm trước. Đó là một tín hiệu đáng mừng. Nhưng số ấn phẩm vẫn còn quá thấp (342 bài trong 5 năm) so với Mã Lai (3682 bài) và Thái Lan (2735 bài). Một lần nữa, số ấn phẩm về kĩ thuật của Mã Lai tăng rất nhanh (86%) so với Thái Lan (tăng 20%).

Nghiên cứu về khoa học máy tính của VN cũng tăng trưởng nhanh, nhưng vì xuất phát từ nền thấp, nên vẫn còn quá kém so với Thái Lan và Mã Lai. Số ấn phẩm về khoa học máy tính trong thời gian 2010-11 tăng gấp 2 lần so với thời gian 2007-09. Nhưng trong cùng thời gian, Mã Lai cũng tăng 2 lần, và Thái Lan tăng 26%. Vì thế, số bài báo về khoa học máy tính của VN chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/7 của Mã Lai.

Mã Lai và Thái Lan bắt đầu vượt qua VN (về toán và vật lí) từ năm nào? Các biểu đồ dưới đây trả lời câu hỏi đó.  Cho đến năm 2010, số ấn phẩm về toán của Mã Lai và Thái Lan vẫn còn thấp hơn VN, nhưng đến năm 2011 thì cả hai nước này đã công bố nhiều ấn phẩm toán hơn VN.  Về vật lí, số ấn phẩm khoa học của VN đã kém hơn Mã Lai và Thái Lan từ 5 năm trước.  Riêng về kĩ thuật thì Mã Lai và Thái Lan đã bỏ VN quá xa. Công bố về vật lí và kĩ thuật của Mã Lai thật sự “cất cánh” từ năm 2008, và đã vượt qua Thái Lan từ 2009.

 

Những số liệu trên đây cho thấy: (a) số công trình toán học của Mã Lai và Thái Lan đang hay đã vượt qua Việt Nam; (b) số công trình về vật lí của VN vốn đã thấp, nay lại còn thấp hơn so với Mã Lai và Thái Lan. Những số liệu này cũng cho thấy giả thuyết VN mạnh về toán và vật lí là không có cơ sở vững vàng.

(Còn tiếp phần II sẽ bàn về chất lượng) 

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Trích: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1426-thai-lan-va-ma-lai-dang-qua-mat-viet-nam-ve-toan-va-vat-li-i-luong

Chỉ số H trong nghiên cứu khoa học

| Posted in Công Bố Khoa Học |

0

Số lượng và chất lượng

Đối với những nhà khoa học đã được trao giải Nobel, sự đóng góp và thành tựu của họ trong khoa học rất khó ai chất vấn được. Nhưng đối với 99,9% các nhà khoa học chưa có [hay không nằm trong phạm vi của] giải thưởng cao quí đó, việc đánh giá thành quả của họ là một vấn đề đa chiều kích (multidimension) và phức tạp. Đa chiều kích là vì thành quả khoa học phải được lượng hóa, nhưng cũng không thể bỏ qua chất lượng của các công trình nghiên cứu. Vấn đề trở nên nan giải khi tìm một công thức để quân bình giữa hai yếu tố lượng và phẩm đó. Trong quá khứ, giới quản lí đánh giá thành quả của một nhà khoa học thường chủ yếu dựa vào 3 chỉ số sau đây:

  • Số lượng bài báo khoa học công bố;
  • Tổng số lần trích dẫn các bài báo; và
  • Hệ số ảnh hưởng của tập san khoa học.

Số lượng bài báo công bố trên các tập san quốc tế thường được xem là một thước đo về sự tích cực và năng suất nghiên cứu của một nhà khoa học. Cần nói thêm rằng cụm từ “tập san quốc tế” ở đây là chỉ những tập san khoa học có ban biên tập mà thành phần là các chuyên gia từ nhiều quốc gia, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh (peer review system), và được công nhận trong danh sách của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information). Theo cách hiểu và các tiêu chuẩn này, phần lớn — nếu không muốn nói là hầu hết — các tạp chí khoa học của nước ta chưa được xem là tập san quốc tế. Cũng cần nói thêm rằng “bài báo khoa học” ở đây chỉ tính những bài báo nguyên thủy (original paper) chứ không phải những bản tóm lược (abstract) nghiên cứu hay trình bày trong các hội nghị khoa học. Do đó, một người có nhiều bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế là một chỉ số khá tốt phản ảnh năng suất lao động của nhà khoa học.

Tuy nhiên, số lượng bài báo chỉ phản ảnh phần lượng, mà có thể không phản ảnh được phần chất. Một nhà nghiên cứu có thể công bố nhiều bài báo khoa học, nhưng chất lượng nghiên cứu có thể không cao. Nhưng lấy gì để đánh giá “chất lượng” nghiên cứu của một nhà khoa học? Đây là một vấn đề gai góc, đã chiếm nhiều thì giờ và giấy mực của nhiều chuyên gia trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa có thước đo hoàn chỉnh. Trong khi chưa có một thước đo hoàn chỉnh, giới quản lí thường dựa vào uy tín hay độ ảnh hưởng của tập san mà họ từng công bố. Uy tín của một tập san thường được đo bằng hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor hay IF). Hệ số ảnh hưởng IF của một tập san khoa học là số lần trích dẫn trung bình trong năm cho các bài báo công bố trên tập san đó trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 2003 và 2004 tập san y khoa Lancet công bố 450 bài báo khoa học, và trong năm 2005 có 10.500 bài báo khác trích dẫn 450 bài báo đó, thì hệ số IF = 10.500 / 450 = 23,3.

Các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm như y sinh học và vật lí thường có hệ số IF cao hơn các tập san thuộc nghành toán học hay khoa học xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là tập san các ngành đó có chất lượng thấp. Điều này có nghĩa là khi so sánh IF, người ta phải so sánh trong cùng ngành khoa học. Nói chung, ở mỗi chuyên ngành, tập san nào có chất lượng cao hay uy tính cao thường có hệ số IF cao. Do đó, dựa vào IF của tập san, người ta có thể đánh giá chất lượng nghiên cứu của nhà khoa học. Nhưng xin nhấn mạnh là “có thể”, bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san chứ không hẳn bài báo khoa học trên tập san đó. Trong thực tế, có nhiều bài báo được công bố trên các tập san có IF thấp nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến chuyên ngành.

Bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san, giới quản lí phải đi tìm một chỉ số khác phản ảnh chất lượng nghiên cứu của cá nhân nhà khoa học. Một trong những chỉ số hấp dẫn là chỉ số trích dẫn (average citation) của cá nhân nhà khoa học. Chỉ số trích dẫn được tính bằng cách lấy tổng số lần trích dẫn chia cho số lượng bài báo khoa học của một tác giả. Chẳng hạn như tác giả VĐT công bố 116 bài báo khoa học, và các bài báo này đã được trích dẫn 1434 lần (kể cả tác giả tự trích dẫn), do đó, chỉ số trích dẫn là 1434 / 116 = 12,3. Nói cách khác, tính trung bình số lần trích dẫn cho mỗi công trình khoa học của tác giả này là 12,3 lần.

Việc diễn giải chỉ số trích dẫn cũng đôi khi gặp khó khăn. Theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% các bài không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn sau 5 năm công bố ! Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Tuy nhiên, các chỉ số dựa vào số lần trích dẫn như IF hay chỉ số trích dẫn cũng có khiếm khuyết quan trọng. Lí do đơn giản là vì có khi nhà khoa học có một vài bài báo được trích dẫn nhiều lần, nhưng đa số còn lại chẳng ai trích dẫn, thì chỉ số trích dẫn không phản ảnh được chính xác tình trạng này.

Chỉ số H

Trong nỗ lực đi tìm một chỉ số tốt hơn, năm 2005, nhà vật lí học Jorge Hirsch (Đại học California San Diego) tiến hành một phân tích khá qui mô về xu hướng công bố bài báo khoa học và trích dẫn, và sau cùng ông đề nghị một chỉ số mà ông lấy tên là H index (H có lẽ là viết tắt họ của ông). Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn. Mục tiêu của chỉ số H là đo lường mức độ ảnh hưởng tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H được định nghĩa như sau: Chỉ số H của một nhà khoa học là H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất là H lần, và (N – H) được trích dẫn dưới H lần. Ví dụ, nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 có nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần.

Nhìn qua định nghĩa trên của chỉ số H, dễ dàng thấy rằng đây là một chỉ số phản ảnh thành quả tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H không có những khiếm khuyết mà các chỉ số khác gặp phải. Chẳng hạn như một nhà nghiên cứu có thể công bố hàng trăm ấn phẩm khoa học, nhưng trong số này chỉ có một số ít được trích dẫn thì chỉ số H vẫn không cao. Có thể nói rằng cái lợi thế lớn nhất của chỉ số H là nó chẳng những bao gồm hai yếu tố lượng và phẩm, mà còn quân bình hóa hai yếu tố này khá tốt.

Chỉ số H xem ra có tính hợp lí (validity). Hirsch chịu khó phân tích các nhà khoa học y sinh học, vật lí học, hóa học từng chiếm giải Nobel thì thấy 84% có chỉ số H trên 30. Những người được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ có chỉ số H trung bình là 45. Khi so sánh những nghiên cứu sinh thành công xin học bổng hậu tiến sĩ (postdoctoral fellowship) và những người không thành công, thì chỉ số H của người thành công lúc nào cũng cao hơn người không thành công. Phân tích trên 147 nhà khoa học ở Hà Lan cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số H và uy tín cũng như số lần trích dẫn lên đến 0,89. Tất cả các dẫn chứng này cho thấy chỉ số H phản ảnh tốt chất lượng nghiên cứu và ảnh hưởng của nhà khoa học.

Vấn đề kế đến là diễn giải chỉ số H như thế nào? Trong bài báo trên PNAS [1], Hirsch viết rằng [tôi tạm dịch] một nhà khoa học với chỉ số H = 12 nên được xem là đủ tiêu chuẩn để vào biên chế đại học (tenure). Một nhà khoa học với H = 20 sau 20 năm làm khoa học có thể xem là một nhà khoa học thành công (successful); một chỉ số H = 40 sau 20 năm làm khoa học được xem là xuất sắc (outstanding) thường hay thấy ở các đại học hàng đầu hay viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế; một chỉ số H = 60 sau 20 năm làm nghiên cứu được xem là thật sự cá biệt (truly unique) [2]. Hirsch còn đề nghị rằng người có chỉ số H khoảng 12 có thể xem tương đương với giảng viên (lecturer hay senior lecturer), và người có H khoảng 18 trở lên có thể xem tương đương với đẳng cấp giáo sư. Phân tích chỉ số H của các nhà khoa học từng chiếm giải Nobel cho thấy chỉ số H trung bình của họ là 41 với độ lệch chuẩn 15. Một số nhà khoa học nổi tiếng hiện nay thường có chỉ số H trên 100. Tuy nhiên, chỉ số H của các nhà khoa học Việt Nam — trong cũng như ngoài nước — nói chung là còn rất khiêm tốn, chỉ dao động trong khoảng 2 đến 31, phần lớn là dưới 10.

 

Chỉ số H của một số nhà khoa học nổi tiếng

 

Vật lí

Ed Witten (Princeton) : 110

Martin Cohen (Berkeley) : 94

Philip Anderson (Princeton) : 91

Manuel Cardona (Max Planck) : 86

Frank Wilczek (MIT) : 68

 

Hóa học

George Whitesides (Harvard) : 135

Elias James Corey (Harvard) : 132

Martin Karplus (Harvard) : 129

Alan Heeger (California) : 114

Kurt Wurthrich (Switzerland) : 113
Khoa học máy tính

Hector Garcia Molina (Stanford) : 70

Deborah Estrin (UCLA) : 68

Ian Foster (Illinois) : 67

Scott Shenker (Berkeley) : 65

Don Towsley (Massachusetts) : 65

Jeffrey Ullman (Stanford) : 65

Ngay từ khi chỉ số H ra đời, có nhiều người tán thành và lấy đó làm thước đo thành tựu và ảnh hưởng của một nhà khoa học. Ngày nay, các tập san khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS, v.v… và các cơ quan quản lí khoa học ở Âu châu, Mĩ châu, Úc châu đều sử dụng chỉ số H để làm cơ sở cho đề bạt, cấp tài trợ, và đánh giá thành công của một nhà khoa học hay một nhóm nghiên cứu. Ngay cả Viện thông tin khoa học (ISI Thomson) cũng sử dụng chỉ số H trong báo cáo của họ [3].

Chuẩn hóa chỉ số H

Nhưng chỉ số H vẫn chưa hoàn hảo. Trong những khiếm khuyết mà giới khoa học chỉ ra trong thời gian qua, có 3 khiếm khuyết lớn như sau:

  • · Thứ nhất, chỉ số H luôn luôn tăng theo thời gian, và do đó tùy thuộc vào độ tuổi của nhà nghiên cứu và thời gian làm nghiên cứu. Chẳng hạn như chỉ số H của một người đã làm nghiên cứu 35 năm có xu hướng cao hơn người có thời gian làm khoa học ngắn hơn.
  • · Thứ hai, chỉ số H không phân biệt được những nhà khoa học đã nghỉ hưu với những nhà khoa học đang làm việc. Chẳng hạn như nếu Albert Einstein chết vào năm 1906 thì chỉ số H của ông chỉ 4 hay 5, nhưng ai cũng biết công trình của ông có ảnh hưởng rất lớn đến khoa học.
  • · Thứ ba, chỉ số H còn tùy thuộc vào ngành khoa học. Nói chung, các ngành khoa học tự nhiên và thực nghiệm (như vật lí, y sinh học) có xu hướng công bố nhiều công trình nghiên cứu và thường hay trích dẫn nhau hơn các nghành khoa học như toán học hay xã hội học.

Để khắc phục các khiếm khuyết trên, một vài chỉ số khác đã được đề xuất để “điều chỉnh” chỉ số H. Để điều chỉnh cho thời gian làm nghiên cứu, Hirsch đề nghị chia chỉ số H cho thời gian làm nghiên cứu và ông gọi chỉ số này là Chỉ số mChẳng hạn như một người làm khoa học 30 năm với chỉ số H = 61 thì chỉ số là 61 / 35 = 1,74.

Nhưng khiếm khuyết thứ ba là đáng quan tâm nhất. Chúng ta biết rằng các bộ môn khoa học có những văn hóa ngành khác nhau. Chẳng hạn như các ngành khoa học thực nghiệm thường có truyền thống trích dẫn cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên như toán học. Do đó, rất khó mà so sánh chỉ số H của một nhà vật lí học với một nhà toán học, nếu không có một cái gì đó để điều chỉnh. “Cái gì đó” chính là hệ số mà hai nhà nghiên cứu Tây Ban Nha đã phát triển [4]. Theo hai nhà nghiên cứu này, lấy ngành vật lí làm chuẩn, có thể tìm những hệ số điều chỉnh bằng cách xem xét xu hướng trích dẫn và chỉ số H của các nhà khoa học trong các bộ môn khoa học khác nhau. Qua những phân tích công phu và khá phức tạp, họ đề ra những hệ số chuẩn hóa như sau (xem Bảng 1).

Cách sử dụng hệ số này rất đơn giản. Chẳng hạn như nhà vật lí Ed Witten có chỉ số H = 110 và nhà hóa học Kurt Wurthrich có chỉ số H = 113, có thể nói rằng nhà hóa học này có thành tựu khoa học cao hơn nhà vật lí ? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải chuẩn hóa chỉ số H. Tra bảng 1 thấy hệ số điều chỉnh cho ngành hóa học là 0,92, và do đó chỉ số H của nhà hóa học này là : 113 × 0,92 = 103,6. Như vậy, sau khi điều chỉnh, nhà hóa học có lẽ có thành tựu khoa học kém hơn nhà vật lí.

Ngoài ra, còn có chỉ số khác như chỉ số g (g index), chỉ số H đương đại (contemporary H index), chỉ số H cá nhân (individual H index). Có thể tham khảo thêm các chỉ số này trong trang nhà của giáo sư Harzing. Tuy nhiên, khi so sánh các chỉ số mới này với chỉ số H, ngoài vài trường hợp cá biệt, không có gì khác nhau đáng kể. Do đó, cho đến nay giới quản lí khoa học vẫn sử dụng chỉ số H hay chỉ số H chuẩn hóa để đánh giá chất lượng và thành tựu của một nhà nghiên cứu khoa học. Chỉ số H còn có thể thay thế hệ số IF để đánh giá uy tín và chất lượng của một tập san khoa học [5] (xem Bảng 2).

Nói tóm lại, chỉ số H là một thước đo thành quả khoa học khách quan nhất so với các chỉ số hiện nay. Tuy chỉ số H vẫn còn vài khiếm khuyết, nhưng với sự chuẩn hóa (lấy ngành vật lí làm chuẩn), các cơ quan quản lí khoa học có một phương tiện, một thước đo có ích để phục vụ cho việc cung cấp tài trợ và đề bạt các nhà khoa học xứng đáng. Ứng dụng chỉ số H cũng là một cách đưa hoạt động khoa học nước ta từng bước hội nhập quốc tế.

Chú thích:

[1] Hirsch, J. E. (2005). “An index to quantify an individual’s scientific research output,” Proceedings of the National Academy of Sciences, 102(46):16569-16572, November 15, 2005 (có thể tải về miễn phí tại arXiv).

[2] Trong bài báo [1] Hirsch viết như sau: “From inspection of the citation records of many physicists, I conclude the following:

  1. A value of m ≈ 1 (i.e., an H index of 20 after 20 years of scientific activity), characterizes a successful scientist.
  2. A value of m ≈ 2 (i.e., an H index of 40 after 20 years of scientific activity), characterizes outstanding scientists, likely to be found only at the top universities or major research laboratories.
  3. A value of m ≈ 3 or higher (i.e., an H index of 60 after 20 years, or 90 after 30 years), characterizes truly unique individuals.”

[3] Có thể sừ dụng ISI để tìm chỉ số H của bất cứ nhà khoa học nào, qua các bước sau đây: Truy cập trang ISI Web of Knowledge (www.isiknowledge.com), tìm “Web of Science”, chọn Advanced Search. Trong box này, gõ tiêu chuẩn tìm như tên nhà khoa học và địa chỉ hay quốc gia. Chẳng hạn như để tìm tác giả Sutherland RL ở viện Garvan thuộc, chúng ta gõ AU=Sutherland RL AND AD=Garvan AND CU=Australia. Sau đó ISI sẽ cho ra một danh sách tất cả các bài báo khoa học. Chọn “Citation Report” sẽ có chỉ số H và một số chỉ số khác của nhà khoa học.

[4] Iglesias JE, Pecharromen C. Scaling the h-index for different scientific ISI fields. Scientometrics 2007;3:303. Có thể tải bài này về từ website sau đây: http://arxiv.org/abs/physics/0607224.

[5] Braun T, Glanzel W, Schubert A. A Hirsch-type index for journals. The Scientist Nov 21, 2005; 22.

[5] Philip Ball. Achievement index climbs the ranks. Nature 448, 737 (16 August 2007) và phản hồi: Michael C. Wendl. H-index: however ranked, citations need context. Nature 449, 403 (27 September 2007). Philip Ball. “Index aims for fair ranking of scientists“. Nature 436 (August 2005), và Wikipedia.

 

Bảng 1. Hệ số điểu chỉnh cho chỉ số H

 

Ngành khoa học

Hệ số điều chỉnh (f) chung

Hệ số điều chỉnh cho các tác giả với số bài báo

100 bài

200 bài

500 bài

1000 bài

Nông nghiệp

1.27

1.20

1.24

1.30

1.35

Sinh học và sinh hóa

0.60

0.77

0.73

0.68

0.64

Hóa học

0.92

0.95

0.94

0.93

0.92

Y học

0.76

0.86

0.83

0.80

0.77

Khoa học máy tính

1.75

1.97

-

-

-

Kinh tế

1.32

1.23

1.28

1.36

1.42

Kĩ thuật

1.70

1.79

-

-

-

Môi trường học

0.88

0.93

0.92

0.90

0.88

Geoscience

0.88

0.93

0.91

0.89

0.88

Miễn dịch học

0.52

0.73

0.68

0.63

0.58

Khoa học vật liệu

1.36

1.29

1.35

1.44

-

Toán học

1.83

-

-

-

-

Vi sinh học

0.63

0.79

0.75

0.71

0.67

Sinh học phân tử và di truyền

0.44

0.68

0.64

0.57

0.53

Thần kinh học

0.56

0.75

0.71

0.66

0.62

Dược học

0.84

0.90

0.89

0.86

0.85

Vật lí

1.00

1.00

1.00

1.00

1.00

Thực vật học

1.08

1.05

1.06

1.07

1.08

Tâm thần và tâm lí học

0.88

0.93

0.91

0.90

0.88

Khoa học xã hội

1.60

1.58

1.72

-

-

Khoa học không gian

0.74

0.85

0.82

0.79

0.76

9/6/2008

Bài này đã đăng trên Tia Sáng: http://www.tiasang.com.vn/news?id=2741

Bảng 2. Chỉ số H của một số tập san khoa học hàng đầu

Tập san

Chỉ số H

Xếp hạng theo chỉ số H

Xếp hạng theo hệ số IF

Nature

157

1

10

Science

155

2

13

New England Journal of Medicine

113

3-4

5

Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA

113

3-4

55

Cell

109

5

3

Journal of Biological Chemistry

100

6

95

Physical Review Letters

96

7

118

Lancet

89

8

60

Circulation

86

9

54

Nature Genetics

85

10

4

JAMA – Journal of the American Medical Association

80

11

26

Cancer Research

79

12

84

Nature Medicine

78

13-14

6

Journal of Immunology

78

13-14

109

Neuron

77

15-16

29

Journal of Cell Biology

77

15-16

36

Journal of Clinical Investigation

76

17-19

48

Blood

76

17-19

75

Astrophysical Journal

76

17-19

511

Nature Neuroscience

75

20-21

44

Journal of the American Chemical Society

75

20-21

133

Tác giả:  Nguyễn Văn Tuấn