rss
twitter
  • I never teach my pupils. I only attempt to provide the conditions in which they can learn.

ONE HUNDRED REASONS TO BE A SCIENTIST

| Posted in Ebook Vật Lý |

0

Giới thiệu mọi người một ebook Vật Lý:

Tải file pdf bên dưới:
ONE HUNDRED REASONS TO BE A SCIENTIST

Giao thoa sóng cơ – Tại sao không tính hai nguồn khi tính số cực đại, cực tiểu

| Posted in Phương pháp dạy và học |

0

Hôm nay chúng tôi xin bàn về một vấn đề nhỏ mà rất thường gặp trong trường phổ thông. Đó là: Khi gặp một bài toán yêu cầu tính số cực đại cực tiểu của giao thoa sóng cơ, thì chúng ta có tính luôn cả hai nguồn vào đó không? Và tại sao?

Để trả lời câu hỏi này, có lẽ trước hết chúng ta ôn lại định nghĩa về đường hyperbol.

Cho hai điểm cố định F_{1},F_{2} có khoảng cách F_{1}F_{2}=2c (c > 0) , đường hyperbol là tập hơp các điểm  M sao cho \left | MF_{1}-MF_{2} \right |=2a trong đó a là số dương cho trước nhỏ hơn c.

Hai điểm F_{1},F_{2} gọi là hai tiêu điểm của hyperbol và 2c là tiêu cự của hyperbol.

Phương trình chính tắc của hyperbol:

\frac{x^{2}}{a^{2}}-\frac{y^{2}}{c^{2}-a^{2}}=1

 

Bây giờ ta quay lại bài toán giao thoa sóng cơ của Vật Lý. Như ta đã biết, khi có hiện tượng giao thoa sóng cơ thì tập hợp các điểm cực đại và cực tiểu là những đường hyperbol.

Chúng ta hãy lấy ví dụ như trong sách giáo khoa, xét trường hợp hai nguồn  S_{1},S_{2} dao động cùng pha. Khi đó tập hợp các cực đại có dạng:

d_{2}-d_{1}=k\lambda   \left ( k \epsilon \mathbb{Z} \right )

Tức là các điểm dao động với biên độ cực đại nhận hai nguồn sóng S_{1},S_{2} làm tiêu điểm.

Ngoài ra, ta đã biết rằng, số cực đại trong trường hợp này được tính bởi công thức:

- \frac{S_{1}S_{2}}{\lambda }{\color{Red} \leq }k{\color{Red} \leq }\frac{S_{1}S_{2}}{\lambda }

Vấn đề là có lấy dấu “=” hay không?

Ta hãy xem lại bên trên, ở phương trình chính tắc của hyperbol nếu  c = a thì phương trình sẽ suy biến (tức là phương trình không còn có nghĩa nữa).

Nếu như theo số liệu bài toán mà ta tính được \frac{S_{1}S_{2}}{\lambda }= a (a nguyên dương) thì suy ra tại nguồn: d_{2}-d_{1}= a\lambda \Leftrightarrow S_{1}S_{2}=a\lambda

Như vậy điều kiện ban đầu về phương trình đường hyperbol hoàn toàn không thỏa mãn (hiệu khoảng cách từ một điểm đến hai tiêu điểm không bằng tiêu cự).

Vì vậy, chúng tôi cho rằng khi chúng ta tính toán số cực đại và số cực tiểu trong giao thoa sóng cơ nên bỏ qua không tính hai nguồn.

Bài viết còn chỗ nào chưa mạch lạc, hay thiếu sót gì mong mọi người góp ý.

Chân thành cảm ơn!

Tỉ lệ tốt nghiệp THPT 2012: quay về điểm khởi đầu “phong trào hai không”

| Posted in Giáo dục Việt Nam |

0

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những hobbies của tôi là đọc những dữ liệu về giáo dục, nhất là tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT). Vài năm qua, năm nào tôi cũng đọc vài dữ liệu và có khi cũng công bố trên Tuần Việt Nam. Năm nay, dữ liệu về tỉ lệ tốt nghiệp chưa đầy đủ, tôi mới thu thập được từ 26 tỉnh thành. Nhưng kết quả cho thấy rất thú vị …

Hôm nọ, đọc bài của Ts Hồ Thiệu Hùng (Đừng để “hố đen” xuất hiện) quá thấm, nên tôi nảy ý định bổ sung những ý của anh Hùng qua vài dữ liệu. Trong bài này, tôi chỉ tính tỉ lệ tốt nghiệp THPT chính qui, chứ không tính tỉ lệ trong nhóm tại chức. Để cho bức tranh tốt hơn, tôi còn trình bày dữ liệu từ năm 2006 đến nay. Nến nhớ năm 2006 là năm ông Nguyễn Thiện Nhân bắt đầu phong trào “hai không”. Do đó, những dữ liệu này cũng nói lên một phần hiệu quả của phong trào đó. Sau đây là vài điểm tôi có thể rút ra từ những dữ liệu sơ khởi:

Thứ nhất là hầu hết tất cả các tỉnh đều có tỉ lệ tốt nghiệp THPT tăng so với năm 2011. Thật vậy, trong số 26 tỉnh thành tôi có dữ liệu, có 24 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp tăng, chỉ có 2 tỉnh thành (Lâm Đồng và Hải Phòng) là tỉ lệ không tăng hay giảm chút ít. Tính trung bình tỉ lệ tốt nghiệp năm 2012 tăng 3.32% so với niên học trước. Nhưng có những địa phương tăng cao như Tây Ninh (+11%), Dak Lak (9%), Ninh Thuận (~8%), và Lai Châu (~6%). Phần lớn các tỉnh thành có tỉ lệ tăng dưới 5%.

Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông 2006-2012

 

Năm Trung bình (%) Độ lệch chuẩn Hệ số biến thiên (%)
2012 (a)

99.19

0.67

0.68

2011

95.87

3.36

3.51

2010

91.08

8.78

9.63

2009

81.61

10.52

12.90

2008

75.61

10.84

14.34

2007

67.78

13.28

19.59

2006

93.01

6.28

6.75

Chú thích: (a) số liệu của 26 tỉnh thành. Hệ số biến thiên (coefficient of variation) là tỉ số của độ lệch chuẩn trên trung bình, với đơn vị phần trăm.

Một điều rất thú vị trong Bảng 1 trên đây là tỉ lệ tố nghiệp năm 2012 rất nhất quán. “Nhất quán” hiểu theo nghĩa độ khác biệt giữa các tỉnh thành rất nhỏ, thể hiện qua độ lệch chuẩn chỉ 0.67%! Thật ra, độ lệch chuẩn năm 2012 là thấp nhất trong suốt 7 năm qua. Một xu hướng thú vị khác là độ lệch chuẩn từ 2007 trở đi càng lúc càng giảm, có lẻ thể hiện các địa phương … đồng lòng học hỏi để nâng tỉ lệ tốt nghiệp.

Biếu đồ 1: Tỉ lệ tốt nghiệp trung bình cho 63 tỉnh thành từ 2006 đến 2011. Số liệu cho năm 2012 là từ 26 tỉnh thành. Mỗi hình hộp có 4 phần: phần “eo” là số trung vị (median); phần trên eo là số  bách phân vị 75; phần dưới eo là 25 bách phân vị 25; hai “cọng râu” trên và dưới mỗi hộp thể hiện số thấp nhất và cao nhất.

Thứ hai là nhìn chung xu hướng tăng giảm của tỉ lệ tốt nghiệp THPT 2006-2012 giống như hình biểu tượng Swoosh của hãng làm giày Nike. Tỉ lệ cao trong năm 2006, sau đó giảm mạnh trong năm 2007, để rồi sau đó lại tăng dần dần đến năm 2011, và năm 2012 là đỉnh điểm gần 100% (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 2. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cho 26 tỉnh thành từ 2006 đến 2012. Đường liên tục màu đen thể hiện tỉnh miền Bắc; đường đứt đoạn màu đỏ là miền Nam; và đường đứt đoạn mịn màu xanh lá cây là miền Trung.

Thứ ba là các tỉnh phía Bắc và Trung có xu hướng tăng nhanh hơn các tỉnh phía Nam. Biểu đồ 2 trình bày tỉ lệ tốt nghiệp cho từng tỉnh thành trong thời gian 2006 đến 2012 và phân chia thành miền. Một số tỉnh phía Bắc (màu đen) có tỉ lệ tốt nghiệp THPT rất thấp vào năm 2007, nhưng sau đó thì tăng rất nhanh và đạt gần 100% trong năm 2012. Các tỉnh miền Trung có tỉ lệ tốt nghiệp trung bình giữa các tỉnh phía Nam và Bắc, nhưng tỉ lệ gia tăng không nhanh như các tỉnh phía Bắc. Điều này dẫn đến hệ quả là độ dao động về tỉ lệ tốt nghiệp của các tỉnh miền Bắc cao nhất. Kế đến là các tỉnh miền Trung, và thấp nhất là các tỉnh miền Nam (Biểu đồ 3).

Biểu đồ 3. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trung bình từ 2006 đến 2012 cho 62 tỉnh, chia theo miền. Ví dụ diễn giải: đối với các tỉnh miền Bắc (hộp màu đỏ) tỉ lệ tốt nghiệp (trung bình của 7 năm qua) là khoảng 92%, nhưng có 75% các tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp gần 99%, 25% các tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp khoảng 78%. Tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp thấp nhất trong thời gian qua là <20%.

Như nói trên, số liệu mới có 26 (trong số 62) tỉnh thành, nên cần phải cẩn thận trong diễn giải. Tuy nhiên, xu hướng chung thì đã quá rõ. Những kết quả trên đây có liên quan gì đến tình trạng gian dối trong học đường và trong xã hội? Có thể nào tỉ lệ tốt nghiệp giảm từ 93% xuống còn 68% trong vòng 1 năm? Có thể nào tỉ lệ tốt nghiệp tăng 10% sau đó 1 năm? Ở Quảng Ngãi có trường mà 7 năm trước tỉ lệ tốt nghiệp là 0, và nay có tỉ lệ tốt nghiệp tròn trĩnh 100%. Khó có biện pháp can thiệp giáo dục nào có thể nâng cao tỉ lệ tốt nghiệp nhanh và cao như thế. Chỉ còn một giả thuyết may ra có thể giải thích cho sự tăng tỉ lệ tốt nghiệp một cách bất bình thường trong thời gian qua là giả thuyết bệnh thành tích. Nếu giả thuyết này đúng thì sau 6 năm phát động phong trào “hai không”, tình trạng bê bối trong thi cử quay trở lại đúng vào thời điểm phong trào được phát động.

Thời gian gần đây có nhiều người đặt vấn đề là có nên duy trì hai kì thi tốt nghiệp trung học và tuyển sinh đại học. Đây là câu hỏi đáng được đặt ra. Ở Úc không có kì thi tuyển sinh đại học, nhưng có kì thi tốt nghiệp trung học.  Đại học dựa vào điểm thi trung học để tuyển sinh.  Nói cách khác, các đại học Úc tin tưởng (dĩ nhiên) vào điểm thi tốt nghiệp trung học để làm cơ sở cho tuyển sinh đại học.  Dĩ nhiên, ngoại trừ ngành y thì còn phải phỏng vấn thí sinh trước khi chọn. Lí do Úc làm được là vì trước đây người ta đã có nghiên cứu cho thấy điểm thi tuyển sinh và điểm thi tốt nghiệp trung học có độ tương quan rất cao, nên họ không cần một kì thi thứ hai.

Riêng ở nước ta, nhất là trong bối cảnh tỉ lệ tốt nghiệp trung học quá cao, cao hơn bất cứ kì vọng thực học nào, thì vấn đề bỏ hay không bỏ kì thi tú tài là một câu hỏi khó có câu trả lời. Nếu điểm thi không phản ảnh thực học thì không có lí do gì duy trì kì thi tốn kém như thế.  Nhưng vấn đề đặt ra là thế nào là thực học. Nếu điểm thi tốt nghiệp THPT không phản ảnh đúng thực học thì cái gì phản ảnh đúng? Kì thi tuyển sinh có phản ảnh đúng thực học? Thật khó có câu trả lời, vì thiếu bằng chứng.  Tôi nghĩ cần phải làm nghiên cứu để có bằng chứng. Một cách đơn giản: nếu điểm thi tuyển sinh có độ tương quan (correlation) cao so với điểm thi tốt nghiệp THPT, thì có lẽ đó là bằng chứng bỏ kì thi tuyển sinh hay kì thi tốt nghiệp THPT. Nhưng nếu độ tương quan quá thấp thì chúng ta không biết kì thi nào phản ảnh đúng thực tế, và chưa có lí do để bỏ kì thi tốt nghiệp THPT.

Không cần dò xét kết quả vì ai cũng đỗ cả (ảnh: PHT)

Một trong những nhà nghiên cứu giáo dục tôi tâm đắc là thầy Dương Thiệu Tống. Trong cuốn “Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại” (Nhà xuất bản Trẻ, 2003), thầy phân tích cho thấy điểm thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển đại học cũng không tương quan với khả năng học của học sinh.  Chỉ riêng môn toán, số liệu của Thầy Tống phân tích trên 1280 học sinh cho thấy: (a) hệ số tương quan giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm thi tuyển sinh đại học là 0.17;(b) giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.09; và (c) giữa điểm thi tuyển sinh đại học và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.19. Nói cách khác, điểm thi kì thi tốt nghiệp THPT chỉ giải thích khoảng 1% đến 2% điểm thi tuyển sinh (hay ngược lại).  Cần nói thêm rằng, trong ngành y, hệ số tương quan giữa điểm thi tú tài và điểm thi đầu năm là khoảng 0.90. Nếu số liệu của thầy Tống lặp lại cho nhiều ngành khác thì đúng là chưa có bằng chứng để bỏ kì thi tốt nghiệp THPT.

NVT

====

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/497160/Dung-de-%E2%80%9Cho-den%E2%80%9D-xuat-hien.html

Đừng để “hố đen” xuất hiện

TT – Thi tốt nghiệp THPT trong thời gian qua đã được thay đổi nhiều về hình thức: lúc chặt chẽ là thi tập trung theo cụm, đổi chéo giám thị và giám khảo, có thanh tra do bộ phái xuống kiểm tra các hội đồng coi thi và chấm thi; lúc lại nới lỏng cho phép thi theo trường, chấm theo tỉnh như mới đây.

Kết quả những năm qua là thế nào? Năm đầu mới áp dụng “hai không” (nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục) thời ông Nguyễn Thiện Nhân làm bộ trưởng Bộ GD-ĐT, các địa phương chưa kịp ứng phó nên nhiều nơi đạt kết quả thấp một cách bất ngờ, không ít tỉnh đạt tỉ lệ tốt nghiệp vòng đầu dưới 50%, có trường có số thí sinh đậu đếm được trên đầu ngón tay. Năm sau, tình hình đã thay đổi hẳn với tỉ lệ tốt nghiệp tăng vọt vài chục phần trăm, rồi dần dần vài năm nữa tỉ lệ này trở về mức cũ trước kia – tỉnh nào cũng đạt trên 90%, có tỉnh trên 98%. Con số đẹp trên khiến nhiều nhà quản lý xã hội thở phào. Kỳ thi 2012 này chắc cũng có nhiều, rất nhiều con số đẹp.

Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi: có phải sự “tiến bộ” này cho thấy chất lượng dạy học đã có những bước tiến thần kỳ, chất lượng học sinh đã vụt lớn lên với tốc độ Phù Đổng? Không, bất kỳ ai có chút hiểu biết về thực trạng giáo dục Việt Nam đều thừa biết không phải vậy.

Thế thì thi tốt nghiệp THPT nhằm mục đích gì, có phải để nắm tương quan trình độ học sinh giữa các tỉnh thành qua từng năm không? Ngay đến Bộ GD-ĐT – nơi tổ chức, cầm trịch cuộc thi này – cũng không dám kết luận một tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp đến 98% thì có chất lượng cao hơn của một tỉnh khác chỉ tốt nghiệp 75%. Nói cách khác, tỉ lệ tốt nghiệp qua cuộc thi tổ chức rầm rộ, tốn kém, với quy chế có vẻ rất chặt chẽ kèm các khẩu hiệu kêu gọi về đạo đức hoàn toàn không phản ánh chất lượng thật sự, càng không phản ánh tương quan về chất lượng dạy và học giữa các địa phương và giữa các năm với nhau.

Con số trên nếu phản ánh được điều gì thì đó chỉ là phản ánh tính “hiệu quả” của các biện pháp đối phó của những người quản lý kỳ thi. Nếu xui rủi các biện pháp gian lận thi cử bị lật tẩy, trưng ra bằng các đoạn video clip hẳn hoi thì “ai” xui nấy cố cãi, cãi không được thì ráng chịu kỷ luật, khi bị kỷ luật thì tìm cách nào đó dằn mặt người dám tố cáo, những nơi còn lại sẽ được kết luận “kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc”.

Nơi nào cán bộ quản lý biết tự trọng tổ chức thi cử trung thực, phản ánh qua tính khá “ổn định” của tỉ lệ tốt nghiệp qua hàng vài chục năm (dù là trước hay sau năm phát động “hai không”), cũng đành tự động viên mình đã nghiêm chỉnh thực hiện quy chế thi cử, thành tích dù có kém địa phương bạn cũng chẳng sao. Nơi nào tổ chức thi bê bối nhưng không bị bắt quả tang thì khấp khởi mừng “thế là trót lọt”, năm sau cứ thế phát huy, không biết chừng còn có bằng khen nữa.

Cái sảy “bệnh thành tích” từ lâu đã trở thành cái ung nhọt – thói gian dối tập thể. Người lừa kẻ khác mà không bị phát giác thì vui mừng đã đành, lạ là người bị lừa dối biết mình bị lừa mà vẫn thích. Cứ để vậy rồi người người sẽ nghiệm ra rằng không lừa, không dối trá thì không sống nổi. Một “hố đen xã hội” xuất hiện. Nếu hố đen trong vũ trụ nuốt trọn mọi thiên thể lớn nhỏ gần nó, nuốt cả ánh sáng luôn thì “hố đen trong xã hội” nuốt chửng mọi đạo đức tốt đẹp của con người, nuốt cả lương tâm luôn. Hãy đừng để “hố đen” xuất hiện trong xã hội chúng ta.

TS HỒ THIỆU HÙNG

17.31

| Posted in Phương pháp dạy và học |

0

  • Áp dụng ĐL II Newton cho 3 vật:

Vật 3:    \vec{T}_{3} + \vec{P}_{3} = m_{3}\vec{a}_{3}                          (1)

Vật 2:  \vec{T}_{2} + \vec{P}_{2} = m_{2}\left \langle \vec{a'}_{2}-\vec{a}_{3} \right \rangle      (2)

Vật 1: \vec{T}_{1} + \vec{P}_{1} = m_{1}\left \langle \vec{a'}_{1}-\vec{a}_{3} \right \rangle        (3)

Đặt T_{3}= TT_{1}= T_{2}= \frac{T}{2}  ta có:

Nhân (2) với m_{1} và nhân (3) với m_{2} ta được:

(2) \Leftrightarrow m_{1}\frac{\vec{T}}{2}+ m_{1}\vec{P}_{2}= m_{1}m_{2}\left \langle \vec{a'}_{2}-\vec{a}_{3} \right \rangle       (4)

(3) \Leftrightarrow m_{2}\frac{\vec{T}}{2}+ m_{2}\vec{P}_{1}= m_{1}m_{2}\left \langle \vec{a'}_{1}-\vec{a}_{3} \right \rangle       (5)

Lấy (4) + (5) ta được:

\Leftrightarrow \left ( m_{1} + m_{2} \right )\frac{\vec{T}}{2}+ 2m_{1}m_{2}\vec{g}= -2m_{1}m_{2}\vec{a}_{3}                                   (5 bis)

\Leftrightarrow \left ( m_{1} + m_{2} \right )\vec{T}+ 4m_{1}m_{2}\vec{g}= -4m_{1}m_{2}\vec{a}_{3}                                      (6)

Nhân (1) với \left (m_{1} + m_{2} \right ) ta có:

(1) \Leftrightarrow \left ( m_{1} + m_{2} \right )\vec{T}+ \left ( m_{1} + m_{2} \right )\vec{P}_{3}= \left ( m_{1} + m_{2} \right )m_{3}\vec{a}_{3}

\Leftrightarrow \left ( m_{1} + m_{2} \right )\vec{T}+ m_{3}\left ( m_{1} + m_{2} \right )\vec{g}= \left ( m_{1} + m_{2} \right )m_{3}\vec{a}_{3}       (7)

Lấy (7) trừ (6) ta được:

m_{3}\left ( m_{1} +m_{2} \right )\vec{g}- 4m_{1}m_{2}\vec{g}= m_{3}\left ( m_{1} +m_{2} \right )\vec{a}_{3}+4m_{1}m_{2}\vec{a}_{3}

\Rightarrow \vec{a}_{3} = \frac{m_{3}\left ( m_{1} +m_{2} \right )\vec{g}- 4m_{1}m_{2}\vec{g}}{m_{3}\left ( m_{1} +m_{2} \right )+4m_{1}m_{2}}

Vì ta chọn chiều (+) hướng xuống nên chiếu lên chiều (+) rồi thay số vào ta được:

a_{3}\approx 0,2 m/s^{2}

Từ ( 5 bis) ta có:

\Rightarrow \frac{\vec{T}}{2}= -\frac{2m_{1}m_{2}\left ( \vec{g} + \vec{a}_{3} \right )}{m_{1}+m_{2}}

Chiếu lên:

\Rightarrow T_{1}=T_{2}= \frac{T}{2}= \frac{2m_{1}m_{2}\left ( g + a_{3} \right )}{m_{1}+m_{2}}= 24,48 (N)

Từ (2) ta có:

\vec{T}_{2}+m_{2}\vec{g}= m_{2}\vec{a'}_{2}-m_{2}\vec{a}_{3}

\Rightarrow \vec{a'}_{2}= \frac{\vec{T}_{2} + m_{2}\left ( \vec{g} + \vec{a}_{3} \right )}{m_{2}}

Chiếu lên ta có:

\Rightarrow a'_{2}= \frac{-T_{2}+m_{2}\left ( g +a_{3} \right )}{m_{2}}= \frac{-24 + 2. (9,8 +0,2)}{2}= -2 m/s^{2}

Gia tốc vật  2:

 

Chuyển động thẳng biến đổi đều P.2

| Posted in Tìm hiểu thêm về Vật Lý sơ cấp |

0

Trích từ Vật Lý Tuổi Trẻ số 102 tháng 2 -2012

Chuyển động thẳng biến đổi đều P.1

| Posted in Tìm hiểu thêm về Vật Lý sơ cấp |

0

Trích từ Vật Lý Tuổi Trẻ số 102 tháng 2-2012

Thái Lan và Mã Lai đang qua mặt Việt Nam về toán và vật lí II: phẩm

| Posted in Thầy Nguyễn Văn Tuấn |

0

Trong bài trước, tôi đã trình bày số liệu cho thấy VN ta đang thụt lùi so với Thái Lan và Mã Lai về toán và vật lí. Bài này sẽ trình bày một số số liệu cho thấy về chất lượng, toán và vật lí của VN cũng thấp hơn các nước láng giềng.

Một công trình khoa học sau khi công bố, nếu có ý tưởng hay phương pháp tốt, sẽ được đồng nghiệp trích dẫn. Câu hỏi đặt ra là số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi đó, vì còn tuỳ thuộc vào ngành khoa học. Theo phân tích của ISI, khoảng 55% bài báo khoa học trên thế giới chưa bao giờ được trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố!   Ngay cả những bài báo được trích dẫn, con số cũng khiêm tốn: chỉ có <1% những bài báo được trích dẫn trên 6 lần. Do đó, có người đề nghị rằng một công trình được trích dẫn trên 5 lần có thể xem là có chất lượng.

Chất lượng của một công trình có thể đánh giá qua hai chỉ số liên quan đến trích dẫn: chỉ số trích dẫn và chỉ số H. Chỉ số trích dẫn là số lần bài báo được trích dẫn sau khi công bố. Chỉ số H phản ảnh mức độ ảnh hưởng của một nhà khoa học, nhưng sau này cũng được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của một nhóm hay trung tâm khoa học, kể cả đại học. Về ý nghĩa của chỉ số H có thể đọc bài trước đây của tôi.

“Mèo khen mèo dài đuôi”

Tần số trích dẫn là một thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng một công trình nghiên cứu. Nhưng trong vài năm gần đây, người ta phát hiện hiện tượng “self citation” (tức tự trích dẫn). Nói cách khác, tác giả tự trích dẫn công trình trước của mình, và do đó làm tăng chỉ số trích dẫn! Tự trích dẫn không phải là không có lí do, vì có khi tác giả phải đặt nghiên cứu của mình trong bối cảnh chung và các công trình trước của mình. Nhưng tự trích dẫn nhiều quá có thể xem là một hành vi gian lận –malpractice – trong khoa học.

Phân tích tần số trích dẫn khoa học VN, tôi phát hiện một xu hướng đáng ngại: tần số tự trích dẫn quá cao trong ngành toán. Thật vậy, trong số 1368 lần trích dẫn các công trình toán từ VN, thì có đến 44% là tác giả tự trích dẫn (Bảng 2)! Thái Lan cũng có tần số tự trích dẫn khá cao (35%), so với Mã Lai (25%) và Singapore là thấp nhất (21%).

Bảng 2 dưới đây còn “tiết lộ” văn hoá ngành rất rõ nét. Giới toán học (Đông Nam Á?) có xu hướng tự trích dẫn cao nhất so với các đồng nghiệp ngành vật lí (với tự trích dẫn dao động từ 14-19%). Riêng các nhà khoa học về khoa học máy tính có tần số tự trích dẫn thấp nhất (4-9%), thấp hơn cả các đồng nghiệp kĩ thuật với tỉ lệ tự trích dẫn khoảng 10-17%.

Bảng 2. Phần trăm tự trích dẫn (self-citation)

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Việt Nam

44

14

10

4

Thái Lan

35

18

11

5

Mã Lai

25

19

17

8

Singapore

21

15

14

9

 

Chỉ số trích dẫn thấp

Nói chung, nghiên cứu của Việt Nam về toán, kĩ thuật và khoa học máy tính không có chất lượng cao, và do đó có tầm ảnh hưởng thấp. Có thể điểm qua vài ngành để biết được tình hình chung:

Toán học. Tổng số lần trích dẫn các công trình toán học của VN trong thời gian 2007-2011 là 1368 lần, tức mỗi công trình toán từ VN được trích dẫn 1.93 lần (Biểu đồ). Con số này cao hơn Thái Lan (1.84), nhưng còn thấp hơn Mã Lai (2.23) và Singapore. Nhưng sau khi loại bỏ tần số tự trích dẫn, thì chỉ số trích dẫn các công trình toán học của VN chỉ còn 1.09, thấp nhất trong vùng (Bảng 3).

Vật lí. Chất lượng nghiên cứu ngành vật lí VN qua chỉ số trích dẫn có phần tốt hơn Thái Lan và Mã Lai. Sau khi điều chỉnh có tần số tự trích dẫn, chỉ số trích dẫn của VN là 2.73, cao hơn Thái Lan (2.60), Mã Lai (2.50), nhưng thấp hơn nhiều so với Singapore (4.78).

Kĩ thuật và khoa học máy tính. Chất lượng nghiên cứu hai ngành này của VN cũng nằm trong tình trạng chung: thấp. Đặc biệt hai ngành này không có “văn hóa” tự trích dẫn cao như ngành toán hay vật lí. Sau khi loại bỏ tần số tự trích dẫn, tính trung bình mỗi bài báo về kĩ thuật của VN được trích dẫn 2.39 lần. Chỉ số này thấp nhất, khi so với Thái Lan (2.91), Mã Lai (2.52), và Singapore (3.86).

Bảng 3. Chỉ số trích dẫn (2007-2011)

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Tính cả tự trích dẫn
Việt Nam

1.93

3.78

2.65

2.10

Thái Lan

1.84

3.16

3.28

2.33

Mã Lai

2.23

3.07

3.04

1.69

Singapore

3.12

5.60

4.47

3.41

Không tính tự trích dẫn
Việt Nam

1.09

2.73

2.39

2.02

Thái Lan

1.19

2.60

2.91

2.21

Mã Lai

1.68

2.50

2.52

1.56

Singapore

2.47

4.78

3.86

3.11

 

 

Ảnh hưởng thấp

Tầm ảnh hưởng có thể đánh giá qua chỉ số H (Bảng 4). Trong thời gian 2007-2011, Việt Nam công bố được 15 bài nghiên cứu toán học được trích dẫn 15 lần trở lên (chỉ số H = 15). Chỉ số này cao hơn Thái Lan (12), nhưng vẫn thấp hơn Mã Lai (16) và Singapore (25). Tuy nhiên, nếu điều chỉnh cho tự trích dẫn thì chắc chắn chỉ số H ngành toán học VN cũng thấp nhất so với 3 nước ASEAN vừa đề cập.

Bảng 4. Chỉ số H của Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai và Singapore 2007-2011

Toán

Vật lí

Kĩ thuật

KH máy tính

Việt Nam

15

19

13

9

Thái Lan

12

23

28

15

Mã Lai

16

22

36

14

Singapore

25

53

51

31

 

Chỉ số H cũng cho thấy tầm ảnh hưởng của các công trình vật lí, kĩ thuật và khoa học máy tính của VN là thấp nhất trong vùng. Singapore lúc nào cũng dẫn đầu tầm ảnh hưởng, kế đến là Mã Lai và Thái Lan.

Cố nhiên, phân tích này chưa xem xét đến từng công trình hay cá nhân xuất sắc, nhưng thiết nghĩ những cá nhân hay công trình outlier như thế không đại diện cho một nền khoa học, nên rất khó diễn giải.

Nói tóm lại, qua hai phân tích, chúng ta dễ dàng thấy 2 lĩnh vực khoa học được xem là “mạnh” của Việt Nam là toán và vật lí, thật ra không mạnh chút nào khi so với các nước láng giềng. Không mạnh về số lượng, càng yếu kém về chất lượng. Điều đáng quan tâm là Mã Lai và Thái Lan đã và đang vượt qua VN về số ấn phẩm toán và lí. Những số liệu này còn cho thấy Mã Lai đã có một bước “nhảy vọt” trong hai năm qua, vượt qua Thái Lan, và trở thành “cường quốc” khoa học thứ 2 ở Đông Nam Á (chỉ sau Singapore).

Những dữ liệu này hàm ý cho biết nếu VN không có kế hoạch phát triển khoa học đồng bộ (mà chỉ tập trung tiền vào một lĩnh vực hẹp nào đó) thì chúng ta sẽ có một nền khoa học méo mó, mất cân đối, và chẳng giống ai. Nếu VN không tạo ra một bước nhảy vọt như Mã Lai (hay Thái Lan trong thập niên trước đây) thì chúng ta sẽ mãi mãi là kẻ đi sau hai nước láng giềng. Không một người Việt Nam nào – trong hay ngoài nước — muốn thấy một viễn ảnh như thế.

NVT

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Trích: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1425-thai-lan-va-ma-lai-dang-qua-mat-viet-nam-ve-toan-va-vat-li-ii-pham-

 

 

Thái Lan và Mã Lai đang qua mặt Việt Nam về toán và vật lí I: lượng

| Posted in Thầy Nguyễn Văn Tuấn |

0

Thật ra thì hai nước này đã “qua mặt” VN từ những 30 năm trước. Nhưng những số liệu tôi thu thập mới đây cho thấy họ đang hoặc đã qua mặt VN về lĩnh vực vật lí và toán. Đó là điều đáng quan tâm …

 

Ấn tượng chung về khoa học Việt Nam là thế mạnh về toán học và vật lí. “Thế mạnh” ở đây là so với các nước trong vùng Đông Nam Á (ngoại trừ Singapore). Do đó, nếu có ai nói “toán học và vật lí là hai ngành khoa học ‘mạnh’ của Việt Nam” thì có lẽ không ai phản đối. Việt Nam có viện toán (nay thì có thêm một viện toán cao cấp) và viện vật lí, với những nhà khoa học – qua mô tả của báo chí – là những bậc kì tài kiệt suất và lừng danh thế giới. Chúng ta dễ dàng chấp nhận, thậm chí tự hào, những giả định như thế, cho đến khi có dữ liệu mới để hiểu biết thêm.

Trong điều kiện thiếu thốn nghiên cứu về hoạt động khoa học, dữ liệu cần thiết để đánh giá, có lẽ là số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học của từng nước. Số liệu này có thể thu thập từ Web of Science (của Thomson ISI), và các cơ quan quản lí khoa học thường dựa vào để cung cấp tài trợ cho nghiên cứu cũng như đánh giá thành tựu khoa học của một nước. Tuy số liệu này không đầy đủ, nhưng nó khách quan, và cũng cho chúng ta vài tín hiệu cần thiết để biết chúng ta đang ở đâu trên bản đồ khoa học trong vùng.

Trong phân tích dưới đây, tôi tập trung vào 4 lĩnh vực khoa học: toán, vật lí, kĩ thuật (engineering), và khoa học máy tính (computer science). Tôi giới hạn số liệu trong thời gian 5 năm, tính từ 2007 đến 2011. Tôi chỉ phân tích dữ liệu cho 4 nước, cụ thể là VN, Thái Lan, Mã Lai, và Singapore. Chủ yếu là so sánh giữa ta với Thái Lan và Mã Lai, vì khoảng cách giữa ta và Singapore còn quá xa, nên so sánh sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, số liệu Singapore được dùng như là một “tham chiếu”.

Lượng: nặng về toán lí, nhẹ về kĩ thuật

Ấn phẩm khoa học. Bảng 1 dưới đây trình bày số lượng ấn phẩm khoa học của 4 nước trong thời gian 2007-2011. Trong thời gian 5 năm qua, các nhà khoa học VN công bố được 5192 bài báo khoa học trên các tập san ISI. Con số này chỉ bằng khoảng 1/5 của Thái Lan và Mã Lai, và trên 1/10 của Singapore.

So với các nước khác trong vùng, VN có số ấn phẩm về toán và vật lí cao. Trong số 5192 bài báo khoa học của VN, khoảng 28% là những công trình về toán và vật lí. Tỉ trọng này còn cao hơn cả Singapore (21%). Trong khi đó, tỉ trọng bài báo về toán và vật lí cộng lại của Thái Lan chỉ khoảng 9%, và Mã Lai 10%.

Tuy nhiên, số ấn phẩm về kĩ thuật và khoa học máy tính của VN chiếm tỉ trọng thấp hơn các nước trong vùng. Khoảng 9% các bài báo khoa học từ VN là liên quan đến kĩ thuật và khoa học máy tính. Trong cùng thời gian, tỉ trọng này của Thái Lan là 14%, Mã Lai 20%, và Singapore gần 30%.

Trong ngành toán, số lượng bài báo khoa học của Việt Nam (707) không cao hơn Mã Lai (631) và Thái Lan (580) bao nhiêu. Tuy nhiên, số công trình về toán của VN chưa bằng 50% của Singapore. Nhưng số lượng ấn phẩm về vật lí của VN chưa bằng phân nửa của Thái Lan và Mã Lai, và chỉ bằng ~10% của Singapore. Riêng số ấn phẩm về kĩ thuật và khoa học máy tính của VN càng khiêm tốn hơn khi so với 3 nước vừa kể.

Bảng 1. Xu hướng biến chuyển về số ấn phẩm quốc tế (ISI) trong thời gian 2009-2009 và 2010-2011

Số ấn phẩm khoa học trong thời gian

Tăng/giảm (%) giữa 2010-11 và 2007-09

2007-11 2007-09 2010-11
Tổng số bài báo ISI

Việt Nam

5192

2693

2499

39

Thái Lan

23223

12765

10458

23

Mã Lai

22053

9383

12670

103

Singapore

39603

21962

17641

20

       

Toán      

Việt Nam

707

370

337

37

Thái Lan

580

271

309

71

Mã Lai

631

286

345

81

Singapore

1536

888

648

9

       

Vật lí      

Việt Nam

735

445

290

-2

Thái Lan

1426

803

623

16

Mã Lai

1549

737

812

65

Singapore

6706

3896

2810

8

       

Kĩ thuật      

Việt Nam

342

82

260

376

Thái Lan

2735

1520

1215

20

Mã Lai

3682

1644

2038

86

Singapore

8492

5003

3489

5

       

KH máy tính    

Việt Nam

122

50

72

116

Thái Lan

502

273

229

26

Mã Lai

781

312

469

125

Singapore

2890

1617

1273

18

Chú thích: cột cuối cùng được tính như sau: (a) tính trung bình mỗi năm cho 3 năm đầu 200-709 (cột 3); (b) tính trung bình cho 2 năm sau 2009-10 (cột 4); (c) lấy kết quả của (b) chia cho kết quả của (a) sẽ có kết quả cho 2 thời kì, tức cột sau cùng. Chẳng hạn như ngành KH máy tính của Singapore, số bài báo trung bình mỗi năm trong thời gian 2010-11 tăng 18% so với số bài báo trung bình năm 2007-09.

Xu hướng: Mã Lai tăng, VN giảm

Để có vài ý niệm về xu hướng công bố, tôi chia thời gian 5 năm thành 2 giai đoạn: 2007-2009 và 2010-2011. Trong thời gian 2007-2009, trung bình mỗi năm VN công bố được khoảng 900 bài, và con số này tăng lên 1250 bài trong thời gian 2010-2011. Như vậy, tỉ lệ tăng trưởng của VN là 39%.

Nhưng tỉ lệ tăng trưởng đó cao hơn Thái Lan (23%) vẫn còn thấp so với Mã Lai (gấp 2 lần). Trong thời gian 2007-09, Mã Lai công bố trung bình mỗi năm khoảng 3120 bài, nhưng con số này cho thời gian 2 năm nay 6335 bài! Mã Lai đã thật sự có một bước nhảy vọt trong hai năm qua, trong khi đó Thái Lan thì chưa.

Phân tích chi tiết hơn cho thấy xu hướng tăng trưởng của Mã Lai và Thái Lan là ngành toán và vật lí. Trong lĩnh vực toán, số ấn phẩm của VN tăng 37% trong hai thời kì trên, nhưng Mã Lai tăng 81% và Thái Lan tăng 71%. Hiện nay, con số bài báo khoa học về toán của Mã Lai (345) đã vượt qua VN (337), còn Thái Lan với 309 bài thì đang “ngấp nghé” VN. Với xu hướng này, chỉ cần hai năm nữa, Thái Lan sẽ có số ấn phẩm toán cao hơn VN.

Trong lĩnh vực vật lí, số ấn phẩm vật lí của Thái Lan và Mã Lai đã cao hơn VN gấp 2 hoặc hơn 2 lần. Đáng chú ý là trong hai thời kì trên, số ấn phẩm vật lí của VN giảm 2%, trong khi đó Mã Lai tăng 65% và Thái Lan tăng 16%. Hai năm qua, VN chỉ công bố được 290 công trình về vật lí, trong khi đó Thái Lan công bố được 623 bài, và Mã Lai công bố còn hơn cả Thái Lan (812 bài).

Trong lĩnh vực kĩ thuật, số bài báo VN gia tăng rất đáng kể. Số bài báo trung bình trong 2 năm qua tăng gần 4 lần so với 3 năm trước. Đó là một tín hiệu đáng mừng. Nhưng số ấn phẩm vẫn còn quá thấp (342 bài trong 5 năm) so với Mã Lai (3682 bài) và Thái Lan (2735 bài). Một lần nữa, số ấn phẩm về kĩ thuật của Mã Lai tăng rất nhanh (86%) so với Thái Lan (tăng 20%).

Nghiên cứu về khoa học máy tính của VN cũng tăng trưởng nhanh, nhưng vì xuất phát từ nền thấp, nên vẫn còn quá kém so với Thái Lan và Mã Lai. Số ấn phẩm về khoa học máy tính trong thời gian 2010-11 tăng gấp 2 lần so với thời gian 2007-09. Nhưng trong cùng thời gian, Mã Lai cũng tăng 2 lần, và Thái Lan tăng 26%. Vì thế, số bài báo về khoa học máy tính của VN chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/7 của Mã Lai.

Mã Lai và Thái Lan bắt đầu vượt qua VN (về toán và vật lí) từ năm nào? Các biểu đồ dưới đây trả lời câu hỏi đó.  Cho đến năm 2010, số ấn phẩm về toán của Mã Lai và Thái Lan vẫn còn thấp hơn VN, nhưng đến năm 2011 thì cả hai nước này đã công bố nhiều ấn phẩm toán hơn VN.  Về vật lí, số ấn phẩm khoa học của VN đã kém hơn Mã Lai và Thái Lan từ 5 năm trước.  Riêng về kĩ thuật thì Mã Lai và Thái Lan đã bỏ VN quá xa. Công bố về vật lí và kĩ thuật của Mã Lai thật sự “cất cánh” từ năm 2008, và đã vượt qua Thái Lan từ 2009.

 

Những số liệu trên đây cho thấy: (a) số công trình toán học của Mã Lai và Thái Lan đang hay đã vượt qua Việt Nam; (b) số công trình về vật lí của VN vốn đã thấp, nay lại còn thấp hơn so với Mã Lai và Thái Lan. Những số liệu này cũng cho thấy giả thuyết VN mạnh về toán và vật lí là không có cơ sở vững vàng.

(Còn tiếp phần II sẽ bàn về chất lượng) 

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Trích: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1426-thai-lan-va-ma-lai-dang-qua-mat-viet-nam-ve-toan-va-vat-li-i-luong

Chỉ số H trong nghiên cứu khoa học

| Posted in Công Bố Khoa Học |

0

Số lượng và chất lượng

Đối với những nhà khoa học đã được trao giải Nobel, sự đóng góp và thành tựu của họ trong khoa học rất khó ai chất vấn được. Nhưng đối với 99,9% các nhà khoa học chưa có [hay không nằm trong phạm vi của] giải thưởng cao quí đó, việc đánh giá thành quả của họ là một vấn đề đa chiều kích (multidimension) và phức tạp. Đa chiều kích là vì thành quả khoa học phải được lượng hóa, nhưng cũng không thể bỏ qua chất lượng của các công trình nghiên cứu. Vấn đề trở nên nan giải khi tìm một công thức để quân bình giữa hai yếu tố lượng và phẩm đó. Trong quá khứ, giới quản lí đánh giá thành quả của một nhà khoa học thường chủ yếu dựa vào 3 chỉ số sau đây:

  • Số lượng bài báo khoa học công bố;
  • Tổng số lần trích dẫn các bài báo; và
  • Hệ số ảnh hưởng của tập san khoa học.

Số lượng bài báo công bố trên các tập san quốc tế thường được xem là một thước đo về sự tích cực và năng suất nghiên cứu của một nhà khoa học. Cần nói thêm rằng cụm từ “tập san quốc tế” ở đây là chỉ những tập san khoa học có ban biên tập mà thành phần là các chuyên gia từ nhiều quốc gia, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh (peer review system), và được công nhận trong danh sách của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information). Theo cách hiểu và các tiêu chuẩn này, phần lớn — nếu không muốn nói là hầu hết — các tạp chí khoa học của nước ta chưa được xem là tập san quốc tế. Cũng cần nói thêm rằng “bài báo khoa học” ở đây chỉ tính những bài báo nguyên thủy (original paper) chứ không phải những bản tóm lược (abstract) nghiên cứu hay trình bày trong các hội nghị khoa học. Do đó, một người có nhiều bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế là một chỉ số khá tốt phản ảnh năng suất lao động của nhà khoa học.

Tuy nhiên, số lượng bài báo chỉ phản ảnh phần lượng, mà có thể không phản ảnh được phần chất. Một nhà nghiên cứu có thể công bố nhiều bài báo khoa học, nhưng chất lượng nghiên cứu có thể không cao. Nhưng lấy gì để đánh giá “chất lượng” nghiên cứu của một nhà khoa học? Đây là một vấn đề gai góc, đã chiếm nhiều thì giờ và giấy mực của nhiều chuyên gia trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa có thước đo hoàn chỉnh. Trong khi chưa có một thước đo hoàn chỉnh, giới quản lí thường dựa vào uy tín hay độ ảnh hưởng của tập san mà họ từng công bố. Uy tín của một tập san thường được đo bằng hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor hay IF). Hệ số ảnh hưởng IF của một tập san khoa học là số lần trích dẫn trung bình trong năm cho các bài báo công bố trên tập san đó trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 2003 và 2004 tập san y khoa Lancet công bố 450 bài báo khoa học, và trong năm 2005 có 10.500 bài báo khác trích dẫn 450 bài báo đó, thì hệ số IF = 10.500 / 450 = 23,3.

Các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm như y sinh học và vật lí thường có hệ số IF cao hơn các tập san thuộc nghành toán học hay khoa học xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là tập san các ngành đó có chất lượng thấp. Điều này có nghĩa là khi so sánh IF, người ta phải so sánh trong cùng ngành khoa học. Nói chung, ở mỗi chuyên ngành, tập san nào có chất lượng cao hay uy tính cao thường có hệ số IF cao. Do đó, dựa vào IF của tập san, người ta có thể đánh giá chất lượng nghiên cứu của nhà khoa học. Nhưng xin nhấn mạnh là “có thể”, bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san chứ không hẳn bài báo khoa học trên tập san đó. Trong thực tế, có nhiều bài báo được công bố trên các tập san có IF thấp nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến chuyên ngành.

Bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san, giới quản lí phải đi tìm một chỉ số khác phản ảnh chất lượng nghiên cứu của cá nhân nhà khoa học. Một trong những chỉ số hấp dẫn là chỉ số trích dẫn (average citation) của cá nhân nhà khoa học. Chỉ số trích dẫn được tính bằng cách lấy tổng số lần trích dẫn chia cho số lượng bài báo khoa học của một tác giả. Chẳng hạn như tác giả VĐT công bố 116 bài báo khoa học, và các bài báo này đã được trích dẫn 1434 lần (kể cả tác giả tự trích dẫn), do đó, chỉ số trích dẫn là 1434 / 116 = 12,3. Nói cách khác, tính trung bình số lần trích dẫn cho mỗi công trình khoa học của tác giả này là 12,3 lần.

Việc diễn giải chỉ số trích dẫn cũng đôi khi gặp khó khăn. Theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% các bài không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn sau 5 năm công bố ! Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Tuy nhiên, các chỉ số dựa vào số lần trích dẫn như IF hay chỉ số trích dẫn cũng có khiếm khuyết quan trọng. Lí do đơn giản là vì có khi nhà khoa học có một vài bài báo được trích dẫn nhiều lần, nhưng đa số còn lại chẳng ai trích dẫn, thì chỉ số trích dẫn không phản ảnh được chính xác tình trạng này.

Chỉ số H

Trong nỗ lực đi tìm một chỉ số tốt hơn, năm 2005, nhà vật lí học Jorge Hirsch (Đại học California San Diego) tiến hành một phân tích khá qui mô về xu hướng công bố bài báo khoa học và trích dẫn, và sau cùng ông đề nghị một chỉ số mà ông lấy tên là H index (H có lẽ là viết tắt họ của ông). Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn. Mục tiêu của chỉ số H là đo lường mức độ ảnh hưởng tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H được định nghĩa như sau: Chỉ số H của một nhà khoa học là H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất là H lần, và (N – H) được trích dẫn dưới H lần. Ví dụ, nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 có nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần.

Nhìn qua định nghĩa trên của chỉ số H, dễ dàng thấy rằng đây là một chỉ số phản ảnh thành quả tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H không có những khiếm khuyết mà các chỉ số khác gặp phải. Chẳng hạn như một nhà nghiên cứu có thể công bố hàng trăm ấn phẩm khoa học, nhưng trong số này chỉ có một số ít được trích dẫn thì chỉ số H vẫn không cao. Có thể nói rằng cái lợi thế lớn nhất của chỉ số H là nó chẳng những bao gồm hai yếu tố lượng và phẩm, mà còn quân bình hóa hai yếu tố này khá tốt.

Chỉ số H xem ra có tính hợp lí (validity). Hirsch chịu khó phân tích các nhà khoa học y sinh học, vật lí học, hóa học từng chiếm giải Nobel thì thấy 84% có chỉ số H trên 30. Những người được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ có chỉ số H trung bình là 45. Khi so sánh những nghiên cứu sinh thành công xin học bổng hậu tiến sĩ (postdoctoral fellowship) và những người không thành công, thì chỉ số H của người thành công lúc nào cũng cao hơn người không thành công. Phân tích trên 147 nhà khoa học ở Hà Lan cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số H và uy tín cũng như số lần trích dẫn lên đến 0,89. Tất cả các dẫn chứng này cho thấy chỉ số H phản ảnh tốt chất lượng nghiên cứu và ảnh hưởng của nhà khoa học.

Vấn đề kế đến là diễn giải chỉ số H như thế nào? Trong bài báo trên PNAS [1], Hirsch viết rằng [tôi tạm dịch] một nhà khoa học với chỉ số H = 12 nên được xem là đủ tiêu chuẩn để vào biên chế đại học (tenure). Một nhà khoa học với H = 20 sau 20 năm làm khoa học có thể xem là một nhà khoa học thành công (successful); một chỉ số H = 40 sau 20 năm làm khoa học được xem là xuất sắc (outstanding) thường hay thấy ở các đại học hàng đầu hay viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế; một chỉ số H = 60 sau 20 năm làm nghiên cứu được xem là thật sự cá biệt (truly unique) [2]. Hirsch còn đề nghị rằng người có chỉ số H khoảng 12 có thể xem tương đương với giảng viên (lecturer hay senior lecturer), và người có H khoảng 18 trở lên có thể xem tương đương với đẳng cấp giáo sư. Phân tích chỉ số H của các nhà khoa học từng chiếm giải Nobel cho thấy chỉ số H trung bình của họ là 41 với độ lệch chuẩn 15. Một số nhà khoa học nổi tiếng hiện nay thường có chỉ số H trên 100. Tuy nhiên, chỉ số H của các nhà khoa học Việt Nam — trong cũng như ngoài nước — nói chung là còn rất khiêm tốn, chỉ dao động trong khoảng 2 đến 31, phần lớn là dưới 10.

 

Chỉ số H của một số nhà khoa học nổi tiếng

 

Vật lí

Ed Witten (Princeton) : 110

Martin Cohen (Berkeley) : 94

Philip Anderson (Princeton) : 91

Manuel Cardona (Max Planck) : 86

Frank Wilczek (MIT) : 68

 

Hóa học

George Whitesides (Harvard) : 135

Elias James Corey (Harvard) : 132

Martin Karplus (Harvard) : 129

Alan Heeger (California) : 114

Kurt Wurthrich (Switzerland) : 113
Khoa học máy tính

Hector Garcia Molina (Stanford) : 70

Deborah Estrin (UCLA) : 68

Ian Foster (Illinois) : 67

Scott Shenker (Berkeley) : 65

Don Towsley (Massachusetts) : 65

Jeffrey Ullman (Stanford) : 65

Ngay từ khi chỉ số H ra đời, có nhiều người tán thành và lấy đó làm thước đo thành tựu và ảnh hưởng của một nhà khoa học. Ngày nay, các tập san khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS, v.v… và các cơ quan quản lí khoa học ở Âu châu, Mĩ châu, Úc châu đều sử dụng chỉ số H để làm cơ sở cho đề bạt, cấp tài trợ, và đánh giá thành công của một nhà khoa học hay một nhóm nghiên cứu. Ngay cả Viện thông tin khoa học (ISI Thomson) cũng sử dụng chỉ số H trong báo cáo của họ [3].

Chuẩn hóa chỉ số H

Nhưng chỉ số H vẫn chưa hoàn hảo. Trong những khiếm khuyết mà giới khoa học chỉ ra trong thời gian qua, có 3 khiếm khuyết lớn như sau:

  • · Thứ nhất, chỉ số H luôn luôn tăng theo thời gian, và do đó tùy thuộc vào độ tuổi của nhà nghiên cứu và thời gian làm nghiên cứu. Chẳng hạn như chỉ số H của một người đã làm nghiên cứu 35 năm có xu hướng cao hơn người có thời gian làm khoa học ngắn hơn.
  • · Thứ hai, chỉ số H không phân biệt được những nhà khoa học đã nghỉ hưu với những nhà khoa học đang làm việc. Chẳng hạn như nếu Albert Einstein chết vào năm 1906 thì chỉ số H của ông chỉ 4 hay 5, nhưng ai cũng biết công trình của ông có ảnh hưởng rất lớn đến khoa học.
  • · Thứ ba, chỉ số H còn tùy thuộc vào ngành khoa học. Nói chung, các ngành khoa học tự nhiên và thực nghiệm (như vật lí, y sinh học) có xu hướng công bố nhiều công trình nghiên cứu và thường hay trích dẫn nhau hơn các nghành khoa học như toán học hay xã hội học.

Để khắc phục các khiếm khuyết trên, một vài chỉ số khác đã được đề xuất để “điều chỉnh” chỉ số H. Để điều chỉnh cho thời gian làm nghiên cứu, Hirsch đề nghị chia chỉ số H cho thời gian làm nghiên cứu và ông gọi chỉ số này là Chỉ số mChẳng hạn như một người làm khoa học 30 năm với chỉ số H = 61 thì chỉ số là 61 / 35 = 1,74.

Nhưng khiếm khuyết thứ ba là đáng quan tâm nhất. Chúng ta biết rằng các bộ môn khoa học có những văn hóa ngành khác nhau. Chẳng hạn như các ngành khoa học thực nghiệm thường có truyền thống trích dẫn cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên như toán học. Do đó, rất khó mà so sánh chỉ số H của một nhà vật lí học với một nhà toán học, nếu không có một cái gì đó để điều chỉnh. “Cái gì đó” chính là hệ số mà hai nhà nghiên cứu Tây Ban Nha đã phát triển [4]. Theo hai nhà nghiên cứu này, lấy ngành vật lí làm chuẩn, có thể tìm những hệ số điều chỉnh bằng cách xem xét xu hướng trích dẫn và chỉ số H của các nhà khoa học trong các bộ môn khoa học khác nhau. Qua những phân tích công phu và khá phức tạp, họ đề ra những hệ số chuẩn hóa như sau (xem Bảng 1).

Cách sử dụng hệ số này rất đơn giản. Chẳng hạn như nhà vật lí Ed Witten có chỉ số H = 110 và nhà hóa học Kurt Wurthrich có chỉ số H = 113, có thể nói rằng nhà hóa học này có thành tựu khoa học cao hơn nhà vật lí ? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải chuẩn hóa chỉ số H. Tra bảng 1 thấy hệ số điều chỉnh cho ngành hóa học là 0,92, và do đó chỉ số H của nhà hóa học này là : 113 × 0,92 = 103,6. Như vậy, sau khi điều chỉnh, nhà hóa học có lẽ có thành tựu khoa học kém hơn nhà vật lí.

Ngoài ra, còn có chỉ số khác như chỉ số g (g index), chỉ số H đương đại (contemporary H index), chỉ số H cá nhân (individual H index). Có thể tham khảo thêm các chỉ số này trong trang nhà của giáo sư Harzing. Tuy nhiên, khi so sánh các chỉ số mới này với chỉ số H, ngoài vài trường hợp cá biệt, không có gì khác nhau đáng kể. Do đó, cho đến nay giới quản lí khoa học vẫn sử dụng chỉ số H hay chỉ số H chuẩn hóa để đánh giá chất lượng và thành tựu của một nhà nghiên cứu khoa học. Chỉ số H còn có thể thay thế hệ số IF để đánh giá uy tín và chất lượng của một tập san khoa học [5] (xem Bảng 2).

Nói tóm lại, chỉ số H là một thước đo thành quả khoa học khách quan nhất so với các chỉ số hiện nay. Tuy chỉ số H vẫn còn vài khiếm khuyết, nhưng với sự chuẩn hóa (lấy ngành vật lí làm chuẩn), các cơ quan quản lí khoa học có một phương tiện, một thước đo có ích để phục vụ cho việc cung cấp tài trợ và đề bạt các nhà khoa học xứng đáng. Ứng dụng chỉ số H cũng là một cách đưa hoạt động khoa học nước ta từng bước hội nhập quốc tế.

Chú thích:

[1] Hirsch, J. E. (2005). “An index to quantify an individual’s scientific research output,” Proceedings of the National Academy of Sciences, 102(46):16569-16572, November 15, 2005 (có thể tải về miễn phí tại arXiv).

[2] Trong bài báo [1] Hirsch viết như sau: “From inspection of the citation records of many physicists, I conclude the following:

  1. A value of m ≈ 1 (i.e., an H index of 20 after 20 years of scientific activity), characterizes a successful scientist.
  2. A value of m ≈ 2 (i.e., an H index of 40 after 20 years of scientific activity), characterizes outstanding scientists, likely to be found only at the top universities or major research laboratories.
  3. A value of m ≈ 3 or higher (i.e., an H index of 60 after 20 years, or 90 after 30 years), characterizes truly unique individuals.”

[3] Có thể sừ dụng ISI để tìm chỉ số H của bất cứ nhà khoa học nào, qua các bước sau đây: Truy cập trang ISI Web of Knowledge (www.isiknowledge.com), tìm “Web of Science”, chọn Advanced Search. Trong box này, gõ tiêu chuẩn tìm như tên nhà khoa học và địa chỉ hay quốc gia. Chẳng hạn như để tìm tác giả Sutherland RL ở viện Garvan thuộc, chúng ta gõ AU=Sutherland RL AND AD=Garvan AND CU=Australia. Sau đó ISI sẽ cho ra một danh sách tất cả các bài báo khoa học. Chọn “Citation Report” sẽ có chỉ số H và một số chỉ số khác của nhà khoa học.

[4] Iglesias JE, Pecharromen C. Scaling the h-index for different scientific ISI fields. Scientometrics 2007;3:303. Có thể tải bài này về từ website sau đây: http://arxiv.org/abs/physics/0607224.

[5] Braun T, Glanzel W, Schubert A. A Hirsch-type index for journals. The Scientist Nov 21, 2005; 22.

[5] Philip Ball. Achievement index climbs the ranks. Nature 448, 737 (16 August 2007) và phản hồi: Michael C. Wendl. H-index: however ranked, citations need context. Nature 449, 403 (27 September 2007). Philip Ball. “Index aims for fair ranking of scientists“. Nature 436 (August 2005), và Wikipedia.

 

Bảng 1. Hệ số điểu chỉnh cho chỉ số H

 

Ngành khoa học

Hệ số điều chỉnh (f) chung

Hệ số điều chỉnh cho các tác giả với số bài báo

100 bài

200 bài

500 bài

1000 bài

Nông nghiệp

1.27

1.20

1.24

1.30

1.35

Sinh học và sinh hóa

0.60

0.77

0.73

0.68

0.64

Hóa học

0.92

0.95

0.94

0.93

0.92

Y học

0.76

0.86

0.83

0.80

0.77

Khoa học máy tính

1.75

1.97

-

-

-

Kinh tế

1.32

1.23

1.28

1.36

1.42

Kĩ thuật

1.70

1.79

-

-

-

Môi trường học

0.88

0.93

0.92

0.90

0.88

Geoscience

0.88

0.93

0.91

0.89

0.88

Miễn dịch học

0.52

0.73

0.68

0.63

0.58

Khoa học vật liệu

1.36

1.29

1.35

1.44

-

Toán học

1.83

-

-

-

-

Vi sinh học

0.63

0.79

0.75

0.71

0.67

Sinh học phân tử và di truyền

0.44

0.68

0.64

0.57

0.53

Thần kinh học

0.56

0.75

0.71

0.66

0.62

Dược học

0.84

0.90

0.89

0.86

0.85

Vật lí

1.00

1.00

1.00

1.00

1.00

Thực vật học

1.08

1.05

1.06

1.07

1.08

Tâm thần và tâm lí học

0.88

0.93

0.91

0.90

0.88

Khoa học xã hội

1.60

1.58

1.72

-

-

Khoa học không gian

0.74

0.85

0.82

0.79

0.76

9/6/2008

Bài này đã đăng trên Tia Sáng: http://www.tiasang.com.vn/news?id=2741

Bảng 2. Chỉ số H của một số tập san khoa học hàng đầu

Tập san

Chỉ số H

Xếp hạng theo chỉ số H

Xếp hạng theo hệ số IF

Nature

157

1

10

Science

155

2

13

New England Journal of Medicine

113

3-4

5

Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA

113

3-4

55

Cell

109

5

3

Journal of Biological Chemistry

100

6

95

Physical Review Letters

96

7

118

Lancet

89

8

60

Circulation

86

9

54

Nature Genetics

85

10

4

JAMA – Journal of the American Medical Association

80

11

26

Cancer Research

79

12

84

Nature Medicine

78

13-14

6

Journal of Immunology

78

13-14

109

Neuron

77

15-16

29

Journal of Cell Biology

77

15-16

36

Journal of Clinical Investigation

76

17-19

48

Blood

76

17-19

75

Astrophysical Journal

76

17-19

511

Nature Neuroscience

75

20-21

44

Journal of the American Chemical Society

75

20-21

133

Tác giả:  Nguyễn Văn Tuấn

Chúc mừng sinh nhật thứ 6 của Thư Viện Vật Lý

| Posted in Thư Viện Vật Lý |

0

Hôm nay ngày 19-1-2012 là SINH NHẬT LẦN THỨ 6 của Thư Viện Vật Lý. Sáu năm là khoảng thời gian không phải là dài đối với một đời, nhưng đối với sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng, thì có thể nói đây không phải là ngắn.

Sáu năm qua, biết bao công sức của các thầy cô, của các học sinh, sinh viên và cộng tác viên. Mỗi một bài viết, giáo án, đề thi, hay video mà chúng ta được xem ngày hôm nay, là do công sức của rất nhiều thành viên trong Thư Viện Vật Lý đã bỏ ra không ít mồ hôi và công sức để sưu tầm, để biên soạn, để hoàn chỉnh.

Thư Viện Vật Lý xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các quý thầy cô, các cộng tác viên và các em học sinh. Chúng ta đều cùng cố gắng mỗi người một chút là đủ để đưa Thư Viện Vật Lý ngày càng phát triển hơn nữa.

 

6th

 

Chúc mừng Thư Viện Vật Lý tròn 6 tuổi

Thư Viện thêm một tuổi mới, không có nghĩa là chúng ta già đi, mà là chúng ta đã trở nên tốt hơn, đẹp hơn (We’re not getting older, we’re getting better).

Tất cả hãy vì Thư Viện Vật Lý của chúng ta!

Thay mặt Ban Quản Trị Thư Viện Vật Lý

Điền Quang